quoc-huy-inkyhtuatso-01-20-15-04-48.jpg

Triển khai Nghị định số 214/2025/NĐ-CP ngày 04 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ về Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu.

Nghị định số 214/2025/NĐ-CP ngày 04 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu. Nghị định này thay thế Nghị định 24/2024/NĐ-CP và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 04 tháng 8 năm 2025. 

Nghị định 214/2025/NĐ-CP tập trung quy định cụ thể về 4 nhóm vấn đề chính:

1. Đăng ký trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia:

Quy định về việc đăng ký, sử dụng và quản lý thông tin trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. 

2. Thời gian tổ chức lựa chọn nhà thầu:
Quy định rõ ràng, minh bạch về thời gian thực hiện các bước trong quá trình lựa chọn nhà thầu, đảm bảo tính thống nhất và hiệu quả. 
3. Công khai thông tin trong hoạt động đấu thầu:
Quy định chi tiết về các thông tin cần công khai, thời điểm công khai và phương thức công khai để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong đấu thầu. 

4. Quản lý nhà thầu:

Quy định về việc quản lý nhà thầu, bao gồm cả việc quản lý các nhà thầu vi phạm pháp luật về đấu thầu, nhằm nâng cao tính tuân thủ và trách nhiệm của nhà thầu. 

Các điểm mới đáng chú ý của Nghị định 214/2025/NĐ-CP:

  • Ưu đãi trong đấu thầu:

    Nghị định có những quy định mới về ưu đãi trong đấu thầu, đặc biệt là ưu đãi cho doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, doanh nghiệp trong nước, và hàng hóa có xuất xứ Việt Nam. 

  • Chỉ định thầu:
    Nghị định tăng hạn mức chỉ định thầu và có quy định cụ thể về các trường hợp được áp dụng hình thức chỉ định thầu rút gọn. 
  • Kế hoạch lựa chọn nhà thầu:
    Nghị định quy định nguyên tắc lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu, bao gồm cả kế hoạch tổng thể và kế hoạch chi tiết cho từng gói thầu. 

Quy định chuyển tiếp:

Nghị định có những quy định chuyển tiếp để đảm bảo tính liên tục và ổn định trong quá trình thực hiện các dự án đấu thầu, đặc biệt là đối với các nhà thầu đang bị cấm tham gia hoạt động đấu thầu. 

Lưu ý: Các cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân liên quan cần nghiên cứu kỹ Nghị định 214/2025/NĐ-CP để nắm rõ các quy định và thực hiện đúng quy định của pháp luật trong quá trình lựa chọn nhà thầu.

Điểm mới của Nghị định 214/2025/NĐ-CP

Ngay sau khi được ban hành, Nghị định 214/2025/NĐ-CP đã nhận được sự quan tâm lớn từ cộng đồng doanh nghiệp bởi hàng loạt điểm mới quan trọng trong quy định về lựa chọn nhà thầu. Dưới đây là những nội dung thay đổi đáng chú ý mà các nhà thầu cần lưu ý để kịp thời điều chỉnh hoạt động cho phù hợp.

1. Bỏ việc thẩm định, hồ sơ thẩm định, nội dung thẩm định, báo cáo thẩm định của kế hoạch tổng thể lựa chọn nhà thầu, kế hoạch lựa chọn nhà thầu

Quy định mới tại Nghị định 214/2025/NĐ-CP đã bãi bỏ việc thẩm định, hồ sơ thẩm định, nội dung thẩm định, báo cáo thẩm định của kế hoạch tổng thể lựa chọn nhà thầu, kế hoạch lựa chọn nhà thầu như trước đây có quy định tại Nghị định số 24/2024/NĐ-CP

2. Bổ sung điều kiện năng lực, kinh nghiệm đối với tổ chuyên gia, tổ thẩm định đối với gói thầu thuộc dự án khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Điều 21 Nghị định 214/2025/NĐ-CP đã bổ sung quy định chi tiết về điều kiện năng lực, kinh nghiệm đối với tổ chuyên gia, tổ thẩm định đối với gói thầu thuộc dự án khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo như sau:

2. Đối với gói thầu thuộc dự án khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; dự án ứng dụng công nghệ cao theo quy định của pháp luật về công nghệ cao, ứng dụng công nghệ mới theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ, chủ đầu tư quyết định lựa chọn thành viên tham gia tổ chuyên gia, tổ thẩm định bảo đảm có năng lực thực hiện công việc được giao mà không bắt buộc phải đáp ứng yêu cầu tại điểm a và điểm d khoản 1 Điều này, trừ trường hợp thành viên tổ chuyên gia, tổ thẩm định là tư vấn cá nhân hoặc cá nhân thuộc tổ chức tư vấn đấu thầu.

Trường hợp cần ý kiến của chuyên gia chuyên ngành thì các chuyên gia này không bắt buộc có chứng chỉ nghiệp vụ chuyên môn về đấu thầu.

3. Quy định chi tiết và cụ thể hoá các trường hợp chỉ định thầu tại Điều 78 như sau:

Điều 78. Các trường hợp chỉ định thầu 

1. Các gói thầu có yêu cầu cấp bách, khẩn cấp, gồm:
a) Gói thầu có yêu cầu cấp bách, khẩn cấp nhằm thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại, bảo vệ chủ quyền quốc gia; 
b) Gói thầu cần thực hiện để ngăn chặn, khắc phục ngay hoặc để cứu trợ, hỗ trợ, xử lý kịp thời hậu quả gây ra do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, tai nạn bất ngờ, sự cố, thảm họa hoặc sự kiện bất khả kháng khác; 
c) Gói thầu cần triển khai ngay để tránh gây nguy hại đến tính mạng và tài sản của cộng đồng dân cư trên địa bàn hoặc để không ảnh hưởng nghiêm trọng đến công trình liền kề; 
d) Gói thầu cấp bách cần triển khai ngay để duy trì hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh gồm: gói thầu dịch vụ tư vấn, phi tư vấn, thuốc, hóa chất, vật tư xét nghiệm, thiết bị y tế, linh kiện, phụ kiện, phương tiện, xây lắp nếu không triển khai ngay sẽ làm gián đoạn hoạt động tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh gây nguy hại đến sức khoẻ, tính mạng người bệnh;
đ) Gói thầu cần thực hiện để cấp cứu người bệnh trong tình trạng cấp cứu theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh (nếu có) gồm: các gói thầu dịch vụ tư vấn, phi tư vấn, thuốc, hóa chất, vật tư xét nghiệm, thiết bị y tế, linh kiện, phụ kiện, phương tiện, xây lắp do nhu cầu đột xuất, không có mặt hàng thay thế và bắt buộc phải sử dụng để đảm bảo sức khoẻ, tính mạng của người bệnh;
e) Gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, phi tư vấn, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, hạt giống cây trồng, hóa chất sát trùng, vắc xin, vật tư, hóa chất cần triển khai ngay để phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh; 
g) Gói thầu dịch vụ tư vấn, phi tư vấn, thuốc (bao gồm cả vắc xin, sinh phẩm), hóa chất, vật tư xét nghiệm, thiết bị y tế (bao gồm cả vật tư tiêm chủng), linh kiện, phụ kiện, phương tiện, xây lắp cần triển khai ngay nhằm phục vụ công tác phòng, chống dịch theo văn bản chỉ đạo của cấp có thẩm quyền (cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về y tế hoặc chính quyền các cấp) hoặc quyết định công bố dịch đối với bệnh truyền nhiễm hoặc địa phương đề nghị công bố dịch đối với bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A theo quy định của pháp luật;
h) Gói thầu dịch vụ tư vấn, phi tư vấn, thuốc, hóa chất, vật tư xét nghiệm, thiết bị y tế, linh kiện, phụ kiện, phương tiện, xây lắp để thiết lập, cải tạo, xây dựng khu điều trị, bệnh viện dã chiến phục vụ công tác phòng, chống dịch mà số lượng thuốc, hoá chất, vật tư xét nghiệm, thiết bị y tế, linh kiện, phụ kiện, phương tiện hiện có tại cơ sở khám, chữa bệnh không đáp ứng được;
i) Gói thầu dịch vụ tư vấn, phi tư vấn, thuốc, hóa chất, vật tư xét nghiệm, thiết bị y tế, linh kiện, phụ kiện, phương tiện, xây lắp phục vụ các đoàn ngoại giao, hỗ trợ các nước phòng, chống dịch cần triển khai ngay nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn và theo đề nghị của cấp có thẩm quyền;
k) Gói thầu thuộc dự án đầu tư công khẩn cấp theo quy định của pháp luật về đầu tư công.
2. Gói thầu cần đẩy nhanh tiến độ, bảo đảm chất lượng, hiệu quả, gồm:
a) Gói thầu thuộc dự án, dự toán mua sắm có yêu cầu cấp bách phải thực hiện ngay theo chỉ đạo tại Nghị quyết của Quốc hội, Nghị quyết của Chính phủ, Quyết định, Chỉ thị, văn bản thông báo ý kiến của lãnh đạo Chính phủ để bảo đảm hoàn thành tiến độ theo chỉ đạo;
b) Gói thầu thuộc dự án có yêu cầu thực hiện ngay nhằm bảo đảm kết nối, đồng bộ giữa các công trình thuộc dự án theo chỉ đạo tại Nghị quyết của Quốc hội, Nghị quyết của Chính phủ, Quyết định, Chỉ thị, văn bản thông báo ý kiến của lãnh đạo Chính phủ để đáp ứng yêu cầu về hiệu quả quản lý, khai thác, vận hành công trình đồng bộ, liên tục;
c) Gói thầu thuộc dự án đầu tư công đặc biệt theo quy định của pháp luật về đầu tư công;
d) Gói thầu cung cấp dịch vụ tổ chức các hội nghị, hội thảo, đại hội, tập huấn (phục vụ ăn, nghỉ, đi lại cho đại biểu; trang thiết bị, thuê hội trường, phòng họp và các dịch vụ liên quan) có yêu cầu phải bố trí địa điểm ăn, nghỉ tập trung cho đại biểu và phải thực hiện gấp; gói thầu tư vấn thiết kế, xây dựng, lắp đặt gian hàng tại hội chợ, triển lãm cần thực hiện gấp để tổ chức các sự kiện, ngày lễ lớn của đất nước; gói thầu mua, nhập hàng dự trữ quốc gia, cung cấp dịch vụ liên quan trong tình huống đột xuất, cấp bách và thuê bảo quản hàng dự trữ quốc gia đối với các mặt hàng có yêu cầu, điều kiện bảo quản chuyên biệt, đặc thù về kho bảo quản, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật bảo quản theo quy định của pháp luật về dự trữ quốc gia; gói thầu vận chuyển, bốc xếp, bao bì đóng gói, bảo hiểm và các dịch vụ khác liên quan đến hoạt động xuất hàng dự trữ quốc gia để cứu trợ, hỗ trợ, viện trợ, phục vụ nhiệm vụ đối ngoại của Đảng, Nhà nước;
đ) Gói thầu sửa chữa, cải tạo trụ sở làm việc, nhà lưu trú công vụ cho cán bộ, công chức cấp tỉnh, cấp xã, thực hiện nhiệm vụ, yêu cầu về chuyển đổi số, công nghệ thông tin có yêu cầu cấp bách về tiến độ để phục vụ việc sắp xếp đơn vị hành chính, tổ chức bộ máy nhà nước;
e) Gói thầu xây lắp có quy mô, tính chất tương tự với gói thầu trước đó đã tổ chức đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế mà nhà thầu đã thực hiện đáp ứng tiến độ, bảo đảm chất lượng, hiệu quả trong thời gian 05 năm kể từ thời điểm nhà thầu ký hợp đồng trước đó đến ngày phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu;
g) Các trường hợp khác cần áp dụng hình thức chỉ định thầu để lựa chọn được nhà thầu thực hiện gói thầu đáp ứng tiến độ, chất lượng và hiệu quả của gói thầu, dự án, dự toán mua sắm.
3. Gói thầu thuộc lĩnh vực chiến lược, các dự án, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo đặc biệt, chuyển đổi số, gồm:
a) Gói thầu thuộc các dự án, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đặc biệt theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;
b) Gói thầu có yêu cầu sử dụng công nghệ hoặc sản phẩm thuộc danh mục công nghệ chiến lược theo quy định của pháp luật về công nghệ cao; gói thầu có yêu cầu sử dụng hàng hóa, dịch vụ thuộc các lĩnh vực chiến lược theo quy định của pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực;
c) Gói thầu thuê, mua sắm sản phẩm, dịch vụ công nghệ số sử dụng ngân sách nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ trọng điểm về chuyển đổi số quốc gia hoặc theo yêu cầu tại Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ;
d) Gói thầu xây dựng, mở rộng, nâng cấp: cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, hệ thống thông tin báo cáo quốc gia; nền tảng tích hợp chia sẻ dữ liệu, phần mềm, cơ sở dữ liệu dùng chung của bộ, ngành, địa phương; hệ thống quản lý văn bản, điều hành, cơ sở dữ liệu chuyên ngành của bộ, tỉnh; hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp bộ, cấp tỉnh; trung tâm giám sát, điều hành thông minh; hệ thống cung cấp dịch vụ công trực tuyến của quốc gia, bộ, địa phương; các nền tảng số, hệ thống thông tin quy mô quốc gia, quy mô vùng.
4. Gói thầu thuộc dự toán mua sắm không hình thành dự án có giá gói thầu không quá 500 triệu đồng; gói thầu dịch vụ tư vấn thuộc dự án có giá gói thầu không quá 800 triệu đồng, gói thầu dịch vụ phi tư vấn, hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp thuộc dự án có giá gói thầu không quá 02 tỷ đồng.
5. Gói thầu có yêu cầu, điều kiện đặc thù về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật, công nghệ, thị trường cung ứng, gồm:
a) Gói thầu mua sắm hàng hóa, dịch vụ chỉ do một cơ sở sản xuất hoặc cung cấp; gói thầu mua thuốc, thiết bị y tế chỉ có duy nhất một hãng sản xuất trên thị trường;
b) Gói thầu cung cấp dịch vụ in ấn, cung cấp tem, biên lai, niêm phong theo quy định của pháp luật về quản lý thuế, hải quan; gói thầu in ấn tài liệu, ấn phẩm phục vụ bầu cử;
c) Gói thầu tư vấn, thi công di dời các công trình hạ tầng kỹ thuật để phục vụ công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư; gói thầu tư vấn, rà phá bom, mìn, vật nổ để chuẩn bị mặt bằng thi công;
d) Gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn phải mua từ nhà thầu đã thực hiện trước đó do cần bảo đảm tính tương thích về công nghệ, bản quyền mà không thể mua được từ nhà thầu khác; gói thầu mua sắm hàng hóa, dịch vụ phi tư vấn phải mua từ nhà thầu đã thực hiện trước đó hoặc từ hãng sản xuất, đại lý của hãng sản xuất do cần bảo đảm tính tương thích về công nghệ, bản quyền với các trang thiết bị, máy móc, phần mềm, dịch vụ sẵn có hoặc do các điều kiện bảo hành, bảo trì của nhà thầu, hãng sản xuất mà không thể mua được từ nhà thầu khác, hãng sản xuất khác;
đ) Gói thầu có tính chất nghiên cứu, thử nghiệm, mua bản quyền sở hữu trí tuệ, mua bản quyền chương trình phát sóng; gói thầu tư vấn, mua sắm hàng hóa, thiết bị để triển khai ứng dụng công nghệ thông tin để quản lý, giám sát và bảo quản hàng hóa thuộc hệ thống kho dự trữ quốc gia; gói thầu nâng cấp và duy trì cơ sở hạ tầng viễn thông để cung cấp dịch vụ viễn thông phổ cập ở địa bàn, khu vực đang chỉ có một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông phổ cập theo quy định của chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích và pháp luật về viễn thông;
e) Gói thầu lựa chọn tổ chức tư vấn lập nhiệm vụ, điều chỉnh nhiệm vụ và lập, điều chỉnh quy hoạch theo quy định của pháp luật về quy hoạch và pháp luật có liên quan về quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành;
g) Gói thầu thuê kho lưu giữ hàng tạm giữ; gói thầu thuê vận chuyển, bốc xếp hàng tạm giữ tại các cảng biển, địa điểm kiểm tra hàng hóa tập trung trong trường hợp chỉ có duy nhất một đơn vị cung cấp dịch vụ trong cảng; gói thầu nhập khẩu vũ khí thể thao phục vụ các câu lạc bộ, trường, trung tâm đào tạo huấn luyện thể thao tập luyện, thi đấu hằng năm; 
h) Gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn lập báo cáo nghiên cứu khả thi, khảo sát, thiết kế xây dựng được chỉ định cho tác giả của phương án kiến trúc trúng tuyển khi tác giả đó có đủ điều kiện năng lực theo quy định của pháp luật về xây dựng; gói thầu thi công xây dựng, phục chế tượng đài, phù điêu, tranh hoành tráng, tác phẩm nghệ thuật gắn với quyền tác giả từ khâu sáng tác đến thi công công trình; gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn lập quy hoạch đô thị và nông thôn được chỉ định cho tác giả của ý tưởng quy hoạch đô thị và nông thôn đã trúng tuyển thông qua thi tuyển; gói thầu tư vấn thăm dò, khai quật khảo cổ; gói thầu tư vấn, thi công tu bổ, phục hồi di tích cấp quốc gia, di tích cấp quốc gia đặc biệt và di sản văn hóa thế giới.
6. Gói thầu có yêu cầu về bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật bảo vệ bí mật nhà nước.

7. Gói thầu thuộc dự án quan trọng quốc gia được áp dụng chỉ định thầu theo nghị quyết của Quốc hội khi quyết định chủ trương đầu tư dự án; gói thầu thuộc trường hợp chỉ định thầu theo quy định của pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực.
Đối với gói thầu thuộc trường hợp chỉ định thầu theo quy định tại khoản này, căn cứ tiến độ hoàn thành của gói thầu, chủ đầu tư thực hiện quy trình chỉ định thầu thông thường hoặc rút gọn theo quy định tương ứng tại Điều 79, khoản 2 và khoản 3 Điều 80 của Nghị định này.
Trường hợp có quy định khác tại Nghị quyết của Quốc hội hoặc pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực về quy trình, thủ tục chỉ định thầu thì thực hiện theo Nghị quyết Quốc hội hoặc pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực đó. 

Trong đó đặc biệt lưu ý là khoản 4 có tăng hạn mức chỉ định thầu như sau:

  • Gói thầu thuộc dự toán mua sắm không hình thành dự án có giá gói thầu không quá 500 triệu đồng

  • Gói thầu dịch vụ tư vấn thuộc dự án có giá gói thầu không quá 800 triệu đồng

  • Gói thầu dịch vụ phi tư vấn, hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp thuộc dự án có giá gói thầu không quá 02 tỷ đồng

4. Bổ sung quy trình chỉ định thầu rút gọn đối với gói thầu có giá dưới 50 triệu đồng

Điều 80 Nghị định 214/2025/NĐ-CP bổ sung việc chủ đầu tư có thể áp dụng chỉ định thầu rút gọn với gói thầu có giá dưới 50 triệu đồng nếu không thực hiện hình thức mua sắm theo chế độ hoá đơn, chứng từ đầy đủ theo quy định pháp luật.

5. Nâng hạn mức chào hàng cạnh tranh: Nâng hạn mức chào hàng cạnh tranh từ 05 tỷ đồng lên 10 tỷ đồng (Điều 81)

6. Nâng hạn mức áp dụng chào giá trực tuyến rút gọn

Tại khoản 3 Điều 99 Nghị định 214/2025/NĐ-CP quy định nâng hạn mức áp dụng chào giá trực tuyến rút gọn như sau:

  • Gói thầu mua sắm hàng hóa, cung cấp dịch vụ phi tư vấn, xây lắp có giá gói thầu từ không quá 500 triệu đồng lên không quá 02 tỷ đồng đối với dự toán mua sắm;

  • Gói thầu mua sắm hàng hóa, cung cấp dịch vụ phi tư vấn, xây lắp có giá gói thầu từ không quá 01 tỳ đồng lên không quá 05 tỷ đồng đối với dự án.

  • Gói thầu mua sắm hàng hóa chia phần (trừ thuốc) để bán lẻ tại cơ sở bán lẻ trong khuôn viên của cơ sở y tế công lập, trong đó mỗi phần là một mặt hàng có giá trị không quá 01 tỷ đồng đối với dự toán mua sắm

7. Nâng hạn mức mua sắm trực tuyến

Điều 103 Nghị định 214/2025/NĐ-CP quy định nâng hạn mức áp dụng mua sắm trực như sau:

  • Hàng hóa, dịch vụ của gói thầu thuộc dự toán mua sắm có giá gói thầu không quá 500 triệu đồng

  • Gói thầu mua sắm hàng hóa, dịch vụ thuộc dự án có giá gói thầu không quá 01 tỷ đồng

Đồng thời nâng khung thời gian từ 12 tháng lên 24 tháng như sau:

2. Thời gian áp dụng mua sắm trực tuyến đối với các hạng mục trong danh mục hàng hóa, dịch vụ mua sắm tập trung là thời gian thực hiện hợp đồng trong trường hợp không ký thỏa thuận khung nhưng không quá 24 tháng kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực hoặc thời gian có hiệu lực của thỏa thuận khung; trường hợp hợp đồng, thỏa thuận khung chưa được công khai theo quy định tại Điều 22 của Nghị định này, thời gian áp dụng mua sắm trực tuyến là 24 tháng kể từ ngày kết quả lựa chọn nhà thầu được đăng tải trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia

8. Có thêm nội dung hàng hoá, dịch vụ đặt hàng

Bổ sung thêm Chương VIII từ Điều 106 đến Điều 112 quy định về đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp hàng hoá, dịch vụ là sản phẩm, dịch vụ công ích và dịch vụ sự nghiệp công thực hiện theo quy định của Chính phủ về giao nhiệm vụ, đặt hàng cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên.

9. Nhiều điểm mới trong xử lý tình huống

Như vậy, Nghị định 214/2025/NĐ-CP thay thế Nghị định số 24/2024/NĐ-CP có rất nhiều nội dung mới thay đổi cơ bản, DauThau.info sẽ tiếp tục có những bài viết phân tích các điểm mới quan trọng của Nghị định 214/2025/NĐ-CP thay thế Nghị định 24/2024/NĐ-CP.

Đăng tin: BỘ PHẬN TRUYỀN THÔNG

Duyệt bài đăng: PHÒNG CÔNG TÁC XÃ HỘI

Chịu trách nhiệm nội dung: BAN PHÁP CHẾ

Nguồn tin: SƯU TẦM TỔNG KẾT 

Link liên kết: 


logo-bao-hiem-xa-hoi-viet-nam.png

18 Tháng Tám, 2025 Tin TứcTruyền Thông

TOÀN VĂN: Nghị định số 158/2025/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc

(Chinhphu.vn) – Chính phủ ban hành Nghị định số 158/2025/NĐ-CP ngày 25/6/2025 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/7/2025.

Nghị định 158/2025/NĐ-CP: Quy định mới về bảo hiểm xã hội bắt buộc

Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

Theo quy định, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc gồm:
1- Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thực hiện theo quy định tại các điểm a, b, c, g, h, i, k, l, m và n khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội.
Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, i, k, l khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội được cử đi học, thực tập, công tác trong và ngoài nước mà vẫn hưởng tiền lương ở trong nước thì thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
2- Chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh quy định tại điểm m khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm:
a- Chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai;
b- Chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh không thuộc đối tượng quy định tại điểm a nêu trên thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc từ ngày 01 tháng 7 năm 2029.
3- Đối tượng quy định tại khoản 2 nêu trên và điểm n khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội đồng thời thuộc nhiều đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội thì việc tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thực hiện như sau:
a- Đối tượng quy định tại khoản 2 nêu trên đồng thời thuộc đối tượng quy định tại một trong các điểm b, c, d, đ, e, i, a, l, k, n, h và g khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội thì tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo đối tượng tương ứng quy định tại điểm b, c, d, đ, e, i, a, l, k, n, h hoặc g khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội theo thứ tự đến trước;
b- Đối tượng quy định tại điểm n khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội đồng thời thuộc đối tượng quy định tại một trong các điểm b, c, d, đ, e, i, a, l và k khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội thì tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo đối tượng tương ứng quy định tại điểm b, c, d, đ, e, i, a, l hoặc k khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội theo thứ tự đến trước.
4- Đối tượng hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hàng tháng không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc quy định tại điểm a khoản 7 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội bao gồm:
– Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;
– Người đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo quy định tại Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 1998 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 50/CP ngày 26 tháng 7 năm 1995 của Chính phủ về chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xã, phường, thị trấn;
– Người đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo quy định tại Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg ngày 04 tháng 8 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc trợ cấp cho những người đã hết tuổi lao động tại thời điểm ngừng hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng; Quyết định số 613/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc trợ cấp hằng tháng cho những người có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm công tác thực tế đã hết thời hạn hưởng trợ cấp mất sức lao động;
– Người đang hưởng chế độ trợ cấp hằng tháng theo quy định tại Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27 tháng 10 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương; Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27 tháng 10 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương; Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg ngày 20 tháng 8 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân tham gia kháng chiến chống Mỹ có dưới 20 năm công tác trong Công an nhân dân đã thôi việc, xuất ngũ về địa phương; Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09 tháng 11 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ, chính sách đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, giúp bạn Lào sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc;
– Người đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Điều 23 của Luật Bảo hiểm xã hội.
5- Đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội làm việc không trọn thời gian, có tiền lương trong tháng tính theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của Nghị định này thấp hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất; người lao động làm việc theo hợp đồng thử việc theo quy định của pháp luật lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và cấp sổ bảo hiểm xã hội

Việc đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội và cấp sổ bảo hiểm xã hội được thực hiện theo quy định tại Điều 28 của Luật Bảo hiểm xã hội và được quy định chi tiết như sau:
Đối tượng quy định tại khoản 2 nêu trên và điểm n khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội nếu đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội qua hộ kinh doanh, doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tham gia quản lý thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Bảo hiểm xã hội.
Đối tượng quy định tại khoản 2 nêu trên và điểm n khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội nếu đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội trực tiếp với cơ quan bảo hiểm xã hội thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 28 của Luật Bao hiểm xã hội.
Đối tượng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội nộp hồ sơ là tờ khai quy định tại điểm b khoản 1 Điều 27 của Luật Bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội trước khi đi làm việc ở nước ngoài.
Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trước khi người này được cử làm thành viên cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội cho đối tượng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Bảo hiểm xã hội.

Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc

Nghị định quy định tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật Bảo hiểm xã hội và được quy định chi tiết như sau:
Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 31 của Luật Bảo hiểm xã hội là tiền lương tháng, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác, trong đó:
a – Mức lương theo công việc hoặc chức danh tính theo thời gian (theo tháng) của công việc hoặc chức danh theo thang lương, bảng lương do người sử dụng lao động xây dựng theo quy định tại Điều 93 của Bộ luật Lao động được thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
b – Các khoản phụ cấp lương để bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động mà mức lương tại a chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ, được thỏa thuận trong hợp đồng lao động; không bao gồm khoản phụ cấp lương phụ thuộc hoặc biến động theo năng suất lao động, quá trình làm việc và chất lượng thực hiện công việc của người lao động;
c- Các khoản bổ sung khác xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương theo quy định tại a, được thỏa thuận trong hợp đồng lao động và trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương; không bao gồm các khoản bổ sung khác phụ thuộc hoặc biến động theo năng suất lao động, quá trình làm việc và chất lượng thực hiện công việc của người lao động.
Nghị định nêu rõ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với đối tượng quy định tại điểm 1 khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội là tiền lương tính trong tháng theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động.
Trường hợp trong hợp đồng lao động thỏa thuận lương theo giờ thì tiền lương tính trong tháng bằng tiền lương theo giờ nhân với số giờ làm việc trong tháng theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động.
Trường hợp trong hợp đồng lao động thỏa thuận lương theo ngày thì tiền lương tính trong tháng bằng tiền lương theo ngày nhân với số ngày làm việc trong tháng theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động.
Trường hợp trong hợp đồng lao động thỏa thuận lương theo tuần thì tiền lương tính trong tháng bằng tiền lương theo tuần nhân với số tuần làm việc trong tháng theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động.
Nghị định quy định tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với đối tượng quy định tại điểm k khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội là mức phụ cấp hằng tháng của người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố. Trường hợp mức phụ cấp hằng tháng của người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố thấp hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc bằng tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 31 của Luật Bảo hiểm xã hội.
Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với đối tượng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội là tiền lương mà đối tượng này được hưởng theo quy định của pháp luật.
Trường hợp tiền lương ghi trong hợp đồng lao động và tiền lương trả cho người lao động bằng ngoại tệ thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính bằng Đồng Việt Nam trên cơ sở tiền lương bằng ngoại tệ được chuyển đổi sang Đồng Việt Nam theo tỷ giá bình quân của tỷ giá mua vào theo hình thức chuyển khoản của Đồng Việt Nam với ngoại tệ do 4 Ngân hàng thương mại có vốn Nhà nước công bố tại thời điểm cuối ngày của ngày 02 tháng 01 cho 06 tháng đầu năm và ngày 01 tháng 07 cho 06 tháng cuối năm; trường hợp các ngày này trùng vào ngày lễ, ngày nghỉ thì lấy tỷ giá của ngày làm việc tiếp theo liền kề.

Mức đóng, phương thức, thời hạn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người lao động, người sử dụng lao động

Nghị định quy định mức đóng, phương thức và thời hạn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người lao động, người sử dụng lao động thực hiện theo quy định tại Điều 33 và Điều 34 của Luật Bảo hiểm xã hội và được quy định chi tiết như sau:
Đối tượng quy định tại điểm k khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội không làm việc và không hưởng phụ cấp từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội tháng đó.
Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/7/2025.

Đăng tin: BỘ PHẬN TRUYỀN THÔNG

Duyệt bài đăng: PHÒNG CÔNG TÁC XÃ HỘI

Chịu trách nhiệm nội dung: BAN PHÁP CHẾ

Nguồn tin: BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ

Link liên kết: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nghi-dinh-158-2025-nd-cp-quy-dinh-moi-ve-bao-hiem-xa-hoi-bat-buoc-119250626172814006.htm

 


quoc-huy-inkyhtuatso-01-20-15-04-48.jpg

Những chính sách mới có hiệu lực từ ngày 15/8/2025

(1) Phương thức thanh toán chi phí KCB BHYT theo giá dịch vụ

Chính phủ ban hành Nghị định 188/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo hiểm y tế có hiệu lực từ ngày 15/8/2025.
Theo đó, phương thức thanh toán theo giá dịch vụ được hướng dẫn như sau:
(i) Phương thức thanh toán theo giá dịch vụ là phương thức thanh toán dựa trên giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và các chi phí trong kết cấu giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh nhưng chưa được tính trong giá làm căn cứ xác định mức thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh của quỹ bảo hiểm y tế.
(ii) Mức thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh của quỹ bảo hiểm y tế được xác định như sau:
– Đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước, quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế bằng giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh thuộc danh mục do quỹ bảo hiểm y tế thanh toán được cấp có thẩm quyền quy định hoặc phê duyệt;
– Đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân, quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế căn cứ giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh thuộc danh mục do quỹ bảo hiểm y tế thanh toán được cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh quy định hoặc phê duyệt cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước trên địa bàn theo nguyên tắc quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 47 Nghị định 188/2025/NĐ-CP. Phần chênh lệch giữa giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân với giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh thuộc danh mục do quỹ bảo hiểm y tế thanh toán do người bệnh tự chi trả.
(iii) Đối với các chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi hưởng, mức hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế trong kết cấu giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh theo lộ trình và quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh nhưng chưa được tính trong giá, quỹ bảo hiểm y tế thanh toán theo số lượng thực tế sử dụng, giá mua theo quy định của pháp luật về đấu thầu hoặc theo mức thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh của quỹ bảo hiểm y tế đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân; chi phí máu, chế phẩm máu thanh toán theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Nghị định 188/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/8/2025, trừ quy định tại:
+ Các điều từ Điều 1 đến Điều 11, các điều 14, 15, 17, 18, 19, từ Điều 22 đến Điều 36, từ Điều 39 đến Điều 44, các điều 49 và 50, từ Điều 54 đến Điều 61, các điều 69, 70, 71 và 72 của Nghị định 188/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2025.
+ Khoản 8 Điều 69 của Nghị định 188/2025/NĐ-CPcó hiệu lực từ ngày 01/7/2025 đến hết 31/12/2025.

(2) Hỗ trợ 5 triệu đồng/tháng cho 02 nhóm đối tượng này từ ngày 15/8/2025

Từ ngày 15/8/2025, Nghị định 179/2025/NĐ-CP quy định về mức hỗ trợ đối với người làm công tác chuyên trách về chuyển đổi số, an toàn thông tin mạng, an ninh mạng, bắt đầu có hiệu lực thi hành.
Theo đó, người làm công tác chuyên trách về chuyển đổi số, an toàn thông tin mạng, an ninh mạng quy định tại Điều 1 Nghị định 179/2025/NĐ-CP gồm:
(i) Cán bộ, công chức, viên chức đảm nhiệm vị trí việc làm chuyên trách về quản lý công nghệ thông tin hoặc công nghệ thông tin (bao gồm: công nghiệp công nghệ thông tin hoặc công nghiệp công nghệ số, công nghệ số, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số); an toàn thông tin mạng hoặc an toàn thông tin, an ninh mạng; giao dịch điện tử và các vị trí việc làm khác liên quan đến chuyển đổi số do cơ quan có thẩm quyền ban hành.
(ii) Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, chuyên môn kỹ thuật và công nhân công an thuộc Công an nhân dân; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng thuộc Quân đội nhân dân và người làm việc trong tổ chức cơ yếu hưởng lương từ ngân sách nhà nước làm chuyên trách về chuyển đổi số, an toàn, an ninh mạng, bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng và các đối tượng khác liên quan đến chuyển đổi số theo thẩm quyền của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.
02 nhóm đối tượng trên được hưởng mức hỗ trợ 5.000.000 đồng/tháng. Mức hỗ trợ này được trả cùng kỳ lương hằng tháng và không dùng để tính đóng, hưởng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế.
Mức hỗ trợ này được áp dụng cho đến khi thực hiện cải cách chính sách tiền lương theo chủ trương của cấp có thẩm quyền.

 

Đăng tin: BỘ PHẬN TRUYỀN THÔNG

Duyệt bài đăng: PHÒNG CÔNG TÁC XÃ HỘI

Chịu trách nhiệm nội dung: BAN PHÁP CHẾ

Nguồn tin: 

Link liên kết: 


quoc-huy-inkyhtuatso-01-20-15-04-48.jpg

NHỮNG ĐIỂM MỚI THÔNG TƯ 79/2025/TT-BTC THAY THẾ THÔNG TƯ 22/2024/TT-BKHĐT LỰA CHỌN NHÀ THẦU QUA MẠNG

 

Điều khoản chuyển tiếp Thông tư 79/2025/TT-BTC?

Căn cứ tại Điều 34 Thông tư 79/2025/TT-BTC quy định điều khoản chuyển tiếp như sau:
– Các gói thầu đã phát hành hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, E-HSMQT, E-HSMST, E-HSMT trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 nhưng đến ngày Thông tư này có hiệu lực chưa đóng thầu thì chủ đầu tư xem xét, quyết định lựa chọn theo một trong hai cách như sau:
+ Tiếp tục tổ chức lựa chọn danh sách ngắn, lựa chọn nhà thầu, ký kết và quản lý thực hiện hợp đồng theo quy định của Luật Đấu thầu 2023 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật sửa đổi Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư và Luật Đấu thầu 2024Nghị định 24/2024/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 17/2025/NĐ-CP và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.
+ Hủy thông báo mời quan tâm, thông báo mời sơ tuyển, thông báo mời thầu E-TBMQT, E-TBMST, E-TBMT và được điều chỉnh, sửa đổi kế hoạch lựa chọn nhà thầu (nếu cần thiết), hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu E-HSMQT, E-HSMST, E-HSMT để tổ chức lựa chọn nhà thầu theo quy định của Luật Đấu thầu 2023 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật sửa đổi Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư và Luật Đấu thầu 2024Luật sửa đổi Luật Đấu thầu; Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư; Luật Hải quan; Luật Thuế giá trị gia tăng; Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật Đầu tư; Luật Đầu tư công; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2025Nghị định 214/2025/NĐ-CP và Thông tư 79/2025/TT-BTC, trừ quy định tại điểm d khoản 1 Điều 10 của Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư; Luật Hải quan; Luật Thuế giá trị gia tăng; Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật Đầu tư; Luật Đầu tư công; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2025.
Các gói thầu đã phát hành hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, E-HSMQT, E-HSMST, E-HSMT trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 và mở thầu trước ngày 04 tháng 8 năm 2025 thì tiếp tục tổ chức lựa chọn danh sách ngắn, lựa chọn nhà thầu, ký kết và quản lý thực hiện hợp đồng theo quy định của Luật Đấu thầu 2023 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật sửa đổi Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư và Luật Đấu thầu 2024Nghị định 24/2024/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 17/2025/NĐ-CP và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.
Các gói thầu đã phát hành hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, E-HSMQT, E-HSMST, E-HSMT từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 trở đi và trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành, việc lựa chọn danh sách ngắn, lựa chọn nhà thầu, ký kết và quản lý thực hiện hợp đồng thực hiện theo quy định của Luật Đấu thầu 2023 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật sửa đổi Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư và Luật Đấu thầu 2024Luật sửa đổi Luật Đấu thầu; Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư; Luật Hải quan; Luật Thuế giá trị gia tăng; Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật Đầu tư; Luật Đầu tư công; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2025 (sau đây gọi là Luật Đấu thầu sửa đổi năm 2025), các nội dung của Nghị định 24/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 17/2025/NĐ-CP), các văn bản hướng dẫn còn phù hợp với quy định của Luật Đấu thầu sửa đổi năm 2025.
Trường hợp thay đổi hình thức lựa chọn nhà thầu từ không qua mạng thành qua mạng thì chủ đầu tư không phải phê duyệt điều chỉnh kế hoạch lựa chọn nhà thầu mà tiến hành chỉnh sửa hình thức lựa chọn nhà thầu trên Hệ thống từ không qua mạng thành qua mạng. Quy trình chỉnh sửa thực hiện theo Hướng dẫn sử dụng.

Hiệu lực thi hành Thông tư 79/2025/TT-BTC?

Căn cứ tại Điều 35 Thông tư 79/2025/TT-BTC quy định hiệu lực thi hành như sau:

Hiệu lực thi hành

1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 04 tháng 8 năm 2025, trừ trường hợp đối với chào giá trực tuyến gói thầu xây lắp theo quy trình rút gọn được thực hiện trên Hệ thống kể từ ngày 01 tháng 9 năm 2025.

2. Kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành, Thông tư số 22/2024/TT-BKHĐT hết hiệu lực thi hành.

3. Trường hợp các thông tin trong quá trình lựa chọn nhà thầu cần bảo mật và không thể công khai trên Hệ thống, chủ đầu tư quyết định việc đăng tải thông tin trong quá trình lựa chọn nhà thầu.

4. Trường hợp gói thầu đặc thù mà nếu áp dụng tiêu chuẩn đánh giá về doanh thu, hợp đồng tương tự của Mẫu E-HSMST, E-HSMQT, E-HSMT ban hành kèm theo Thông tư này sẽ có ít hơn 03 nhà thầu đáp ứng yêu cầu về doanh thu bình quân hằng năm, hợp đồng tương tự thì chủ đầu tư được chỉnh sửa các yêu cầu này theo nguyên tắc sau:

a) Việc chỉnh sửa yêu cầu về doanh thu bình quân hằng năm, hợp đồng tương tự khác với quy định của các Mẫu E-HSMST, E-HSMQT, E-HSMT phải bảo đảm việc phân chia gói thầu là hợp lý, quy mô gói thầu không quá lớn để hạn chế cạnh tranh;

b) Khi trình phê duyệt E-HSMST, E-HSMQT, E-HSMT, tổ chuyên gia phải nêu rõ việc chỉnh sửa E-HSMST, E-HSMQT, E-HSMT trong tờ trình để chủ đầu tư xem xét;

c) Trong mọi trường hợp, chủ đầu tư phải bảo đảm không làm hạn chế sự tham gia của nhà thầu; nhà thầu được lựa chọn có đủ năng lực, kinh nghiệm để thực hiện gói thầu.

5. Kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành, khi lập hồ sơ mời thầu đối với lựa chọn nhà thầu không qua mạng, việc lập hồ sơ mời thầu được thực hiện như sau:

a) Đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn áp dụng hình thức đấu thầu quốc tế, chủ đầu tư chỉnh sửa các Mẫu hồ sơ mời thầu ban hành kèm theo các Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định quy định về đấu thầu mua sắm theo Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh Châu Âu, Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai-len trên cơ sở bảo đảm không trái với quy định của Luật Đấu thầu, Nghị định số 214/2025/NĐ-CP;

b) Đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, hỗn hợp áp dụng hình thức đấu thầu trong nước, chủ đầu tư chỉnh sửa các Mẫu E-HSMT ban hành kèm theo Thông tư này trên cơ sở bảo đảm không trái với quy định của Luật Đấu thầu, Nghị định số 214/2025/NĐ-CP và phù hợp với cách thức tổ chức lựa chọn nhà thầu không qua mạng.

6. Hằng năm, Bộ Tài chính hướng dẫn việc cung cấp, đăng tải thông tin về đấu thầu trên Hệ thống phù hợp với lịch nghỉ lễ, Tết theo thông báo của Bộ Nội vụ.

7. Việc chỉnh sửa các biểu mẫu dưới dạng webform trên Hệ thống thực hiện theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 146 của Nghị định số 214/2025/NĐ-CP.

8. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương, Ủy ban nhân dân các cấp, các tập đoàn kinh tế nhà nước, các tổng công ty nhà nước và tổ chức, cá nhân có liên quan gửi ý kiến về Bộ Tài chính để kịp thời hướng dẫn.

Như vậy, Thông tư 79/2025/TT-BTC có hiệu lực thi hành kể từ ngày 04 tháng 8 năm 2025, trừ trường hợp đối với chào giá trực tuyến gói thầu xây lắp theo quy trình rút gọn được thực hiện trên Hệ thống kể từ ngày 01 tháng 9 năm 2025.

Đăng tin: BỘ PHẬN TRUYỀN THÔNG

Duyệt bài đăng: PHÒNG CÔNG TÁC XÃ HỘI

Chịu trách nhiệm nội dung: BAN PHÁP CHẾ

Nguồn tin: 

Link liên kết: 


LOGO-CTXH-1200x1200.jpg

18 Tháng Tám, 2025 Tin TứcTruyền Thông

Lan tỏa yêu thương trong chương trình trao kinh phí quý 3/2025 cho trẻ em mồ côi do COVID-19 tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh

Thứ bảy, 16/08/2025 – 09:05AM, tại BV LVT.

Chiều ngày 15/8, tại hội trường Bệnh viện Lê Văn Thịnh, chương trình “Trao kinh phí quý 3 năm 2025 cho trẻ em mồ côi do COVID-19 và trao quà cho các đoàn viên có hoàn cảnh khó khăn” đã diễn ra trong không khí ấm áp, chan chứa nghĩa tình. Đây là hoạt động thiết thực nhằm chăm lo, sẻ chia với những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, giúp các em nhỏ và các đoàn viên có thêm động lực vượt qua thử thách, tiếp tục vươn lên trong học tập, lao động và cuộc sống.

Lan tỏa yêu thương trong chương trình trao kinh phí quý 3/2025 cho trẻ em mồ côi do COVID-19 tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh- Ảnh 1.

Phát biểu tại chương trình, BSCKII Trần Văn Khanh Giám đốc Bệnh viện Lê Văn Thịnh bày tỏ niềm xúc động và niềm vui khi được trực tiếp trao gửi sự quan tâm đến những mảnh đời kém may mắn: “Trước hết, cho phép tôi thay mặt Ban Giám đốc bệnh viện gửi lời cảm ơn chân thành đến nhà hảo tâm chị Nguyễn Thị Diệu Hiền và Công ty Tâm Đan – đơn vị đã đồng hành, tài trợ và chia sẻ yêu thương với các em nhỏ và các đoàn viên có hoàn cảnh khó khăn. Đây không chỉ là sự hỗ trợ về vật chất mà còn là nguồn động viên to lớn, giúp các em và các anh chị vững tin hơn trong cuộc sống”.

Lan tỏa yêu thương trong chương trình trao kinh phí quý 3/2025 cho trẻ em mồ côi do COVID-19 tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh- Ảnh 2.

Đặc biệt, trong chương trình lần này, chị Nguyễn Thị Diệu Hiền và nhóm bạn đã tiếp tục đồng hành cùng bệnh viện, với sự đóng góp thường xuyên 20 triệu đồng mỗi tháng để chăm lo cho trẻ em mồ côi do COVID-19 và con em đoàn viên công đoàn có hoàn cảnh khó khăn. Đây là nghĩa cử cao đẹp, góp phần duy trì sự ổn định và lâu dài cho chương trình.

Nguồn kinh phí chăm lo cụ thể trong quý 3/2025 bao gồm:

– 09 trẻ em mồ côi do COVID-19: 60.600.000 đồng

– 33 con đoàn viên công đoàn khó khăn: 33.000.000 đồng

– 05 hộ gia đình có con nhỏ tại Mái ấm công đoàn: 15.000.000 đồng

– 47 phần gạo (25kg/trẻ em): khoảng 22.000.000 đồng

– Tập trắng cho 47 bé (mỗi bé 10 quyển): 3.000.000 đồng

Lan tỏa yêu thương trong chương trình trao kinh phí quý 3/2025 cho trẻ em mồ côi do COVID-19 tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh- Ảnh 3.

Tổng kinh phí hỗ trợ đã trao tặng trong dịp này lên đến hơn 133 triệu đồng cùng nhiều phần quà ý nghĩa. Đây là nguồn động viên kịp thời, giúp các em nhỏ có thêm điều kiện học tập, sinh hoạt và hỗ trợ các đoàn viên vượt qua giai đoạn thử thách.

Sự chung tay của các nhà tài trợ đã góp phần thắp sáng niềm tin cho những hoàn cảnh dễ bị tổn thương nhất trong xã hội. Chị Nguyễn Thị Diệu Hiền cùng đại diện Công ty Tâm Đan chia sẻ mong muốn tiếp tục đồng hành lâu dài cùng bệnh viện trong các hoạt động thiện nguyện, đặc biệt là chăm lo cho trẻ em mồ côi và đoàn viên, người lao động có hoàn cảnh khó khăn.

Chương trình không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ trước mắt mà còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc: đó là tinh thần “lá lành đùm lá rách”, thể hiện trách nhiệm cộng đồng và truyền thống nhân ái tốt đẹp của dân tộc ta. Mỗi nghĩa cử trao đi không chỉ tiếp thêm nguồn lực vật chất, mà còn khơi dậy niềm tin và nghị lực để các em nhỏ, các đoàn viên vững bước trên hành trình phía trước.

Lan tỏa yêu thương trong chương trình trao kinh phí quý 3/2025 cho trẻ em mồ côi do COVID-19 tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh- Ảnh 4.

BSCKII Trần Văn Khanh Giám đốc Bệnh viện Lê Văn Thịnh khẳng định: “Chúng tôi tin rằng, những nghĩa cử nhân ái này sẽ tiếp tục lan tỏa, góp phần xây dựng một cộng đồng đoàn kết, nhân văn và đầy ắp tình người”.

Chương trình đã khép lại trong bầu không khí ấm áp và xúc động. Những nụ cười, ánh mắt lấp lánh niềm vui của các em nhỏ cùng sự phấn khởi của các đoàn viên khi nhận được sự quan tâm, hỗ trợ đã minh chứng rõ ràng cho giá trị của sự sẻ chia. Đây chính là động lực để Bệnh viện Lê Văn Thịnh cùng các nhà hảo tâm tiếp tục nhân rộng các hoạt động thiện nguyện, góp phần xây dựng một xã hội nghĩa tình, nơi mọi người đều được quan tâm và sẻ chia.

Tấn Tài

Đăng tin: BỘ PHẬN TRUYỀN THÔNG

Duyệt bài đăng: PHÒNG CÔNG TÁC XÃ HỘI

Chịu trách nhiệm nội dung: TRUYỀN THÔNG T3G – BV LVT

Nguồn tin: BÁO THANH NIÊN VIỆT

Link liên kết: https://thanhnienviet.vn/lan-toa-yeu-thuong-trong-chuong-trinh-trao-kinh-phi-quy-3-2025-cho-tre-em-mo-coi-do-covid-19-tai-benh-vien-le-van-thinh-20925081621052375.htm


LOGO-CTXH-1200x1200.jpg

Tiên phong trong hợp tác chăm sóc sức khỏe tâm thần: Bệnh viện Lê Văn Thịnh bàn giao xe cứu thương hỗ trợ Trung tâm Điều dưỡng tâm thần Tân Định

Thứ bảy, ngày 16/08/2025 – 08:00AM, tại BV LVT

Ngày 15/8/2025, tại bệnh viện Lê Văn Thịnh đã diễn ra Lễ bàn giao xe cứu thương từ Bệnh viện Lê Văn Thịnh (phường Bình Trưng , TP.HCM) nhằm phục vụ công tác vận chuyển, chăm sóc và cấp cứu người bệnh tâm thần. Đây là hoạt động nằm trong chương trình hỗ trợ toàn diện mà Sở Y tế TP.HCM phân công, thể hiện tinh thần trách nhiệm, sự sẻ chia và gắn kết chặt chẽ giữa hai đơn vị y tế.

Nhiệm vụ được giao từ Sở Y tế TP.HCM

Căn cứ Quyết định số 1681/QĐ-SYT ngày 24/3/2025 của Sở Y tế TP.HCM, Bệnh viện Lê Văn Thịnh được phân công nhiệm vụ hỗ trợ toàn diện cho Trung tâm Điều dưỡng tâm thần Tân Định. Từ đó đến nay, bệnh viện đã triển khai nhiều hoạt động thiết thực, bền bỉ và hiệu quả, tập trung vào các lĩnh vực then chốt như:

– Khám sức khỏe định kỳ cho người bệnh tại Trung tâm, giúp phát hiện sớm các bệnh lý thể chất và tâm thần để kịp thời điều trị.

– Đào tạo, hướng dẫn chuyên môn chăm sóc y tế cho đội ngũ điều dưỡng, hộ lý và nhân viên Trung tâm, nhằm chuẩn hóa quy trình, nâng cao năng lực chuyên môn.

Tiên phong trong hợp tác chăm sóc sức khỏe tâm thần: Bệnh viện Lê Văn Thịnh bàn giao xe cứu thương hỗ trợ Trung tâm Điều dưỡng tâm thần Tân Định- Ảnh 1.

– Hỗ trợ truyền thông giáo dục sức khỏe cho người bệnh và gia đình, góp phần thay đổi nhận thức, tăng hiệu quả điều trị lâu dài.

– Hỗ trợ cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế, từng bước cải thiện điều kiện chăm sóc và sinh hoạt của người bệnh.

Theo BS.CKII Trần Văn Khanh – Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Bệnh viện Lê Văn Thịnh, việc hỗ trợ này không chỉ là nhiệm vụ được giao mà còn là trách nhiệm nhân văn của bệnh viện với cộng đồng. “Người bệnh tâm thần là nhóm rất dễ bị tổn thương, cần sự quan tâm toàn diện cả về y tế lẫn điều kiện sống. Chúng tôi muốn đồng hành cùng Trung tâm để mang lại môi trường điều trị và phục hồi tốt nhất cho họ,” ông nhấn mạnh.

Nhu cầu cấp thiết về phương tiện vận chuyển bệnh nhân

Trong quá trình phối hợp công tác, Bệnh viện Lê Văn Thịnh nhận thấy một trong những khó khăn lớn của Trung tâm Điều dưỡng tâm thần Tân Định là thiếu phương tiện vận chuyển cấp cứu. Nhiều bệnh nhân tại đây khi cần chuyển tuyến hoặc cấp cứu khẩn cấp phải mất thời gian chờ đợi, ảnh hưởng đến thời gian “vàng” trong điều trị.

Tiên phong trong hợp tác chăm sóc sức khỏe tâm thần: Bệnh viện Lê Văn Thịnh bàn giao xe cứu thương hỗ trợ Trung tâm Điều dưỡng tâm thần Tân Định- Ảnh 2.

Ông Lư Nguyễn Minh Tuấn – Giám đốc Trung tâm Điều dưỡng tâm thần Tân Định – chia sẻ: “Trung tâm hiện chăm sóc hàng ngàn bệnh nhân nội trú với nhiều mức độ bệnh lý khác nhau. Việc có xe cứu thương riêng sẽ giúp chúng tôi chủ động hơn trong xử lý các tình huống cấp cứu, đặc biệt là khi chuyển bệnh nhân đến bệnh viện tuyến trên. Đây là nhu cầu bức thiết nhằm đảm bảo an toàn tính mạng cho người bệnh.”

Xuất phát từ thực tế này, Bệnh viện Lê Văn Thịnh đã đề xuất cho Trung tâm mượn một xe cứu thương hiện có để phục vụ công tác vận chuyển bệnh nhân. Đề xuất này nhanh chóng được Sở Y tế TP.HCM chấp thuận tại Công văn số 916/SYT-KHTC ngày 23/7/2025.

Lễ bàn giao – minh chứng của tình hữu nghị và hợp tác

Buổi lễ bàn giao xe cứu thương diễn ra trong không khí ấm áp, thân tình nhưng cũng đầy trang trọng. Đại diện lãnh đạo hai đơn vị, gồm BS.CKII Trần Văn Khanh – Giám đốc Bệnh viện Lê Văn Thịnh, và ông Lư Nguyễn Minh Tuấn – Giám đốc Trung tâm Điều dưỡng tâm thần Tân Định, đã cùng ký biên bản bàn giao, thực hiện các thủ tục kiểm tra kỹ thuật và chính thức đưa phương tiện vào sử dụng.

Chiếc xe cứu thương được bàn giao đạt đầy đủ tiêu chuẩn vận chuyển bệnh nhân, được trang bị các thiết bị cấp cứu cơ bản, hệ thống liên lạc, bình oxy, cáng nâng và các dụng cụ hỗ trợ chuyên chở an toàn. Việc đưa phương tiện này vào hoạt động sẽ giúp Trung tâm nâng cao khả năng đáp ứng cấp cứu, đặc biệt trong các tình huống đột xuất hoặc khẩn cấp về sức khỏe tâm thần và thể chất của bệnh nhân.

Tiên phong trong hợp tác chăm sóc sức khỏe tâm thần: Bệnh viện Lê Văn Thịnh bàn giao xe cứu thương hỗ trợ Trung tâm Điều dưỡng tâm thần Tân Định- Ảnh 3.

Phát biểu tại buổi lễ, BS.CKII Trần Văn Khanh khẳng định: “Chiếc xe cứu thương này không chỉ là phương tiện kỹ thuật mà còn là biểu tượng của sự gắn kết, hợp tác và hỗ trợ hết mình giữa hai đơn vị. Chúng tôi tin rằng, với phương tiện mới, Trung tâm sẽ nâng cao đáng kể khả năng xử lý cấp cứu, bảo vệ an toàn cho người bệnh.”

Ý nghĩa vượt lên trên giá trị vật chất

Hoạt động bàn giao xe cứu thương lần này mang nhiều ý nghĩa sâu sắc. Trước hết, đây là sự cụ thể hóa tinh thần chỉ đạo của Sở Y tế TP.HCM về việc liên kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa các cơ sở y tế nhằm phát huy tối đa nguồn lực và kinh nghiệm chuyên môn.

Thứ hai, việc này góp phần tạo điều kiện để Trung tâm Điều dưỡng tâm thần Tân Định nâng cao chất lượng chăm sóc và quản lý người bệnh, từ đó cải thiện hình ảnh và niềm tin của cộng đồng với công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần.

Tiên phong trong hợp tác chăm sóc sức khỏe tâm thần: Bệnh viện Lê Văn Thịnh bàn giao xe cứu thương hỗ trợ Trung tâm Điều dưỡng tâm thần Tân Định- Ảnh 4.

Thứ ba, sự hỗ trợ kịp thời này cũng truyền tải thông điệp về tinh thần “tương thân tương ái” trong ngành y – khi mỗi đơn vị không chỉ lo cho nhiệm vụ của mình mà còn sẵn sàng chia sẻ nguồn lực để giúp đỡ những nơi khó khăn hơn.

Ông Lư Nguyễn Minh Tuấn xúc động nói: “Chúng tôi coi đây là một món quà ý nghĩa cả về vật chất lẫn tinh thần. Sự hỗ trợ của Bệnh viện Lê Văn Thịnh sẽ giúp Trung tâm an tâm hơn trong công tác chuyên môn, đồng thời khích lệ toàn thể cán bộ nhân viên tiếp tục nỗ lực vì sức khỏe người bệnh.”

Định hướng hợp tác lâu dài

Sau lễ bàn giao, lãnh đạo hai đơn vị thống nhất sẽ tiếp tục mở rộng hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Trong thời gian tới, Bệnh viện Lê Văn Thịnh dự kiến tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ y bác sĩ, điều dưỡng của Trung tâm về:

– Kỹ năng cấp cứu và hồi sức tim phổi.

– Phát hiện sớm và xử trí các biến chứng tâm thần cấp.

– Quản lý và chăm sóc toàn diện bệnh nhân tâm thần mạn tính.

Tiên phong trong hợp tác chăm sóc sức khỏe tâm thần: Bệnh viện Lê Văn Thịnh bàn giao xe cứu thương hỗ trợ Trung tâm Điều dưỡng tâm thần Tân Định- Ảnh 5.

Ngoài ra, bệnh viện cũng sẽ hỗ trợ tư vấn, cải tiến quy trình vận hành xe cứu thương, đảm bảo phương tiện luôn trong tình trạng sẵn sàng và an toàn cao nhất khi thực hiện nhiệm vụ.

BS.CKII Trần Văn Khanh khẳng định: “Chúng tôi sẽ không dừng lại ở việc bàn giao xe, mà còn tiếp tục đồng hành với Trung tâm trong mọi hoạt động chuyên môn và hỗ trợ kỹ thuật. Mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh tâm thần, hướng đến một hệ thống y tế nhân văn và hiệu quả.”

Lan tỏa giá trị nhân văn

Sự kiện bàn giao xe cứu thương hôm nay tuy chỉ diễn ra trong thời gian ngắn nhưng mang ý nghĩa lớn đối với cả hai đơn vị và đặc biệt là với người bệnh. Hình ảnh chiếc xe cứu thương lăn bánh từ Bệnh viện Lê Văn Thịnh đến Trung tâm Điều dưỡng tâm thần Tân Định là minh chứng sống động cho tinh thần hợp tác, sẻ chia vì sức khỏe cộng đồng.

Đây cũng là thông điệp gửi đến toàn ngành y tế: mọi nguồn lực, dù lớn hay nhỏ, nếu được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, đều có thể tạo ra sự thay đổi tích cực và cứu sống nhiều sinh mạng.

Với sự hỗ trợ này, hy vọng rằng công tác cấp cứu và vận chuyển bệnh nhân tại Trung tâm Điều dưỡng tâm thần Tân Định sẽ được cải thiện rõ rệt, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và phục hồi cho người bệnh – những người đang cần nhiều hơn sự quan tâm và yêu thương của xã hội.

Tấn Tài 

Đăng tin: BỘ PHẬN TRUYỀN THÔNG

Duyệt bài đăng: PHÒNG CÔNG TÁC XÃ HỘI

Chịu trách nhiệm nội dung: TRUYỀN THÔNG T3G – BV LVT

Nguồn tin: BÁO THANH NIÊN VIỆT

Link liên kết: https://thanhnienviet.vn/tien-phong-trong-hop-tac-cham-soc-suc-khoe-tam-than-benh-vien-le-van-thinh-ban-giao-xe-cuu-thuong-ho-tro-trung-tam-dieu-duong-tam-than-tan-dinh-209250817130111508.htm

 


LOGO-CTXH-1200x1200.jpg

Bệnh Chikungunya: Nguyên nhân, triệu chứng, cách điều trị và phòng bệnh

12-08-2025 11:40 | Tra cứu bệnh

Bệnh Chikungunya được đề cập trong y văn từ lâu và không phải bệnh lạ. Bệnh này không gây sốc cô đặc máu, hạ tiểu cầu như sốt xuất huyết Dengue. Bệnh Chikungunya có tiên lượng khá tốt, hầu hết tự khỏi, vì vậy người dân không nên quá hoang mang.

1. Chikungunya là bệnh gì?

Bệnh Chikungunya được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1952 tại miền nam Tanzania, châu Phi.

Tên gọi “Chikungunya” có nguồn gốc từ ngôn ngữ địa phương, có nghĩa là “người đi khom lưng” do triệu chứng đau khớp nghiêm trọng khiến người bệnh phải khom người khi di chuyển.

2. Nguyên nhân gây bệnh Chikungunya

Bệnh Chikungunya là bệnh truyền nhiễm do virus Chikungunya (CHIKV) gây ra lây truyền qua trung gian là muỗi Aedes (cùng loại muỗi vằn truyền bệnh sốt xuất huyết). Bệnh đang bùng phát tại một số nước Châu Á (Trung Quốc, Singapore, Thái Lan…).

Tại Việt Nam chưa ghi nhận ca bệnh, nhưng tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Bệnh chưa có vaccine, thuốc điều trị đặc hiệu, tuy nhiên các chuyên gia y tế cũng khuyến cáo người dân không nên quá hoang mang, chủ động phòng ngừa bằng việc diệt/loại bỏ muỗi.

Bệnh Chikungunya: Nguyên nhân, triệu chứng, cách điều trị và phòng bệnh- Ảnh 1.

PGS.TS Đỗ Duy Cường – Viện trưởng Viện Y học Nhiệt đới, Bệnh viện Bạch Mai.

3. Triệu chứng bệnh Chikungunya

PGS.TS Đỗ Duy Cường – Viện trưởng Viện Y học Nhiệt đới, Bệnh viện Bạch Mai nhận định, bệnh Chikungunya đã được đề cập trong y văn từ lâu, nên không phải là bệnh lạ. Xu hướng bùng phát và lan rộng hiện nay của bệnh có thể do yếu tố thay đổi môi trường, thời tiết làm muỗi phát triển.

Các biểu hiện lâm sàng của bệnh Chikungunya tương tự như sốt xuất huyết Dengue và một số bệnh do virus khác như:

  • Sốt cao đột ngột (thường trên 39°C)
  • Đau khớp dữ dội
  • Đau cơ
  • Đau đầu
  • Buồn nôn
  • Phát ban
  • Phù quanh khớp.

Nhóm bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh nặng hơn, bao gồm:

  • Trẻ sơ sinh
  • Người lớn có bệnh lý nền (tăng huyết áp, bệnh thận, tiểu đường,..).

Nếu không được xử trí kịp thời bệnh có thể diễn biến nặng, thậm chí tử vong.

Các triệu chứng của Chikungunya xuất hiện trung bình từ 4-12 ngày sau khi bị muỗi nhiễm bệnh đốt. Hầu hết các triệu chứng thường tự khỏi trong vòng từ 2-7 ngày.

Thời kỳ lây truyền của bệnh là khoảng 1 ngày trước khi khởi phát sốt và trong khoảng 6 ngày đầu tiên của bệnh.

Bệnh Chikungunya: Nguyên nhân, triệu chứng, cách điều trị và phòng bệnh- Ảnh 2.

Bệnh Chikungunya là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus Chikungunya gây ra, lây truyền từ người bệnh sang người lành thông qua vết đốt của muỗi vằn – cũng là loài muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết.

4. Bệnh Chikungunya điều trị thế nào?

Theo PGS.TS Đỗ Duy Cường, bệnh Chikungunya lây truyền chủ yếu qua vết đốt của muỗi vằn (cùng loài truyền sốt xuất huyết) bao gồm muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus. Các phương pháp chẩn đoán xác định bệnh Chikungunya bao gồm:

  • Xét nghiệm ELISA để phát hiện kháng thể IgM/IgG hoặc kháng nguyên virus.
  • Xét nghiệm PCR (Polymerase Chain Reaction) và realtime-PCR để phát hiện vật liệu di truyền của virus Chikungunya. Hiện nay một số cơ sở xét nghiệm đã có xét nghiệm PCR để chẩn đoán.

“Chikungunya không gây sốc cô đặc máu và hạ tiểu cầu như sốt xuất huyết Dengue, bệnh tiên lượng khá tốt, hầu hết tự khỏi nên người dân không nên quá hoang mang. Do chưa có vaccine nên việc phòng bệnh hiện nay chủ yếu tập trung phòng muỗi đốt, để giảm thiếu nguy cơ và bảo vệ tốt nhóm bệnh nhân cao tuổi, có bệnh lý nền.

Bên cạnh đó, Việt Nam đang có dịch sốt xuất huyết Dengue nên một số người có thể mắc triệu chứng dễ nhầm với bệnh Chikungunya”, PGS.TS Đỗ Duy Cường chia sẻ.

5. Cách phòng bệnh Chikungunya

Theo khuyến cáo mới nhất của Bộ Y tế, người về từ các quốc gia, khu vực đang có sự gia tăng dịch bệnh Chikungunya cần chủ động theo dõi sức khỏe trong vòng 12 ngày nếu có biểu hiện sốt, đau mỏi cơ khớp.

Người dân tại các hộ gia đình, khu dân cư thực hiện các biện pháp diệt lăng quăng/bọ gậy/muỗi, vệ sinh môi trường loại bỏ những nơi có thể trở thành chỗ cư trú, sinh sôi của muỗi. Dùng màn khi ngủ, bôi thuốc đuổi muỗi.

Người dân không nên tự ý chẩn đoán, điều trị tại nhà. Khi có các dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh như sốt, đau khớp, nổi ban,… cần đến ngay cơ sở y tế nơi gần nhất để được tư vấn, khám, điều trị kịp thời.

Dịch bệnh Chikungunya tuy chưa “gõ cửa” Việt Nam, nhưng nguy cơ xâm nhập và lan nhanh trong mùa cao điểm muỗi, mưa nóng ẩm đang hiện hữu. Người dân cần chủ động phòng tránh, đồng thời hệ thống y tế cần duy trì giám sát và phản ứng nhanh.

Đăng tin: BỘ PHẬN TRUYỀN THÔNG

Duyệt bài đăng: PHÒNG CÔNG TÁC XÃ HỘI

Chịu trách nhiệm nội dung: TRUYỀN THÔNG T3G – BV LVT

Nguồn tin: SỨC KHỎE VÀ ĐỜI SÔNG

Link liên kết: https://suckhoedoisong.vn/benh-chikungunya-nguyen-nhan-trieu-chung-cach-dieu-tri-va-phong-benh-169250812113915334.htm


quoc-huy-inkyhtuatso-01-20-15-04-48.jpg

TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH SỐ 98/2025/NĐ-CP NGÀY 06/05/2025 CỦA CHÍNH PHỦ

Nghị định số 98/2025/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước để mua sắm, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp tài sản, trang thiết bị; chi thuê hàng hóa, dịch vụ; sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới hạng mục công trình trong các dự án đã đầu tư xây dựng và các nhiệm vụ cần thiết khác

Số ký hiệu

98/2025/NĐ-CP

Ngày ban hành

06-05-2025

Ngày có hiệu lực

06-05-2025

Loại văn bản

Nghị định

Cơ quan ban hành

Chính phủ

Người ký

Hồ Đức Phớc

Trích yếu

Quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước để mua sắm, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp tài sản, trang thiết bị; chi thuê hàng hóa, dịch vụ; sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới hạng mục công trình trong các dự án đã đầu tư xây dựng và các nhiệm vụ cần thiết khác

Tài liệu đính kèm

98-ndcp.signed.pdf 

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định việc lập dự toán, phân bổ dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí chi thường xuyên ngân sách nhà nước quy định tại khoản 6 Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, gồm:

a) Mua sắm, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp tài sản, trang thiết bị theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và pháp luật của ngành, lĩnh vực có liên quan.

b) Sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới hạng mục công trình trong các dự án đã đầu tư xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng, pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và pháp luật của ngành, lĩnh vực có liên quan.

c) Thuê hàng hóa, dịch vụ.

d) Các nhiệm vụ cần thiết khác.

2. Nghị định này không điều chỉnh đối với các nội dung:

a) Nhiệm vụ cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới hạng mục công trình trong các dự án đã đầu tư xây dựng; mua sắm, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp tài sản, trang thiết bị; thuê hàng hóa, dịch vụ và các nhiệm vụ cần thiết khác trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 165/2016/NĐ-CP ngày 24 tháng 12 năm 2016 của Chính phủ quy định về quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước đối với một số hoạt động thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh (Nghị định số 165/2016/NĐ-CP) và Nghị định số 01/2020/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 165/2016/NĐ-CP.

b) Nhiệm vụ cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới hạng mục công trình trong các dự án đã đầu tư xây dựng; mua sắm, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp tài sản, trang thiết bị; thuê hàng hóa, dịch vụ và các nhiệm vụ cần thiết khác đột xuất để phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, cứu đói, phục vụ nhiệm vụ quan trọng về quốc phòng, an ninh trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn hoặc các lý do bất khả kháng làm hư hỏng cơ sở vật chất được thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, Nghị định số 66/2021/NĐ-CP ngày 06 tháng 7 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng chống thiên tai và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng chống thiên tai và Luật Đê điều.

c) Nhiệm vụ cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới hạng mục công trình trong các dự án đã đầu tư xây dựng; mua sắm, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp tài sản, trang thiết bị; thuê hàng hóa, dịch vụ và các nhiệm vụ cần thiết khác đối với Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 117/2017/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2017 của Chính phủ quy định về quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước đối với một số hoạt động đối ngoại.

d) Nhiệm vụ cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới hạng mục công trình trong các dự án đã đầu tư xây dựng; mua sắm, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp tài sản, trang thiết bị; thuê hàng hóa, dịch vụ và các nhiệm vụ cần thiết khác sử dụng nguồn vốn đầu tư công theo quy định của pháp luật về đầu tư công.

đ) Nhiệm vụ bảo dưỡng, sửa chữa tài sản công nhằm đảm bảo tài sản công được duy trì theo đúng công năng và tiêu chuẩn kỹ thuật trang bị ban đầu; không làm thay đổi công năng, quy mô của tài sản công theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật khác có liên quan.

e) Nhiệm vụ mua sắm xe ô tô và thuê dịch vụ xe ô tô được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý sử dụng tài sản công, pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật khác có liên quan.

3. Đối với nhiệm vụ mua sắm, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp tài sản, trang thiết bị; nhiệm vụ sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới hạng mục công trình trong các dự án đã đầu tư xây dựng; nhiệm vụ thuê hàng hóa, dịch vụ và các nhiệm vụ cần thiết khác sử dụng kinh phí chi thường xuyên trong lĩnh vực công nghệ thông tin, khoa học và công nghệ, bảo vệ môi trường và các lĩnh vực khác (nếu có, ngoài quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định này): Các cơ quan, đơn vị áp dụng quy định tại Nghị định này về trình tự, thủ tục lập dự toán, phân bổ dự toán và quyết toán kinh phí chi thường xuyên và thực hiện theo quy định của pháp luật về công nghệ thông tin, khoa học và công nghệ, bảo vệ môi trường và pháp luật khác có liên quan để tổ chức thực hiện đảm bảo đúng quy định.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị-xã hội.

2. Các đơn vị sự nghiệp công lập.

3. Các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến sử dụng kinh phí chi thường xuyên ngân sách nhà nước để mua sắm sửa chữa, cải tạo, nâng cấp tài sản, trang thiết bị; thuê hàng hóa, dịch vụ; cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới hạng mục công trình trong các dự án đã đầu tư xây dựng và các nhiệm vụ cần thiết khác.

4. Các đối tượng quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều này, sau đây được gọi chung là cơ quan, đơn vị.

Đăng tin: BỘ PHẬN TRUYỀN THÔNG

Chịu trách nhiệm nội dung: BAN PHÁP CHẾ

Duyệt bài đăng: PHÒNG CÔNG TÁC XÃ HỘI

Nguồn tin: CỔNG THÔNG TIN CHÍNH PHỦ

Link: https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=213555


HINH-DAU-THAU.jpg

HƯỚNG DẪN THI HÀNH LUẬT ĐẤU THẦU VỀ LỰA CHỌN NHÀ THẦU

I. Nghị định 24/2024/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đấu thầu hết hiệu lực từ ngày 4/8/2025.

II. Nghị định số 214/2025/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định chỉ tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu

Ngày 04/8/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định 214/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu 2023 về lựa chọn nhà thầu.

1. Theo đó, tại khoản 1 Điều 1 Nghị định 214/2025/NĐ-CP có nêu phạm vi điều chỉnh của Nghị định này như sau:

1. Nghị định này quy định chi tiết một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu, bao gồm: khoản 5 Điều 3; khoản 1 Điều 5; khoản 6 Điều 6; khoản 6 Điều 10; khoản 3 Điều 15; khoản 4 Điều 19; khoản 2 Điều 20; Điều 23; khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 29; khoản 2 Điều 29a; khoản 3 Điều 29b; khoản 4 Điều 36; khoản 2 Điều 39; khoản 2 Điều 43; khoản 2 và khoản 4 Điều 44; khoản 3 Điều 45; Điều 50; khoản 3 và khoản 7 Điều 53; khoản 3 và khoản 4 Điều 55; Điều 57; khoản 1 Điều 61; khoản 4 Điều 67; khoản 6 Điều 70; khoản 2 Điều 84; khoản 4 Điều 86; khoản 5 Điều 87; khoản 4 Điều 88; khoản 5 Điều 89 Luật Đấu thầu.

Số ký hiệu 214/2025/NĐ-CP
Ngày ban hành 04-08-2025
Ngày có hiệu lực 04-08-2025
Loại văn bản Nghị định
Cơ quan ban hành Chính phủ
Người ký Trần Hồng Hà
Trích yếu Quy định chỉ tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu
Tài liệu đính kèm

2. Nguyên tắc ưu đãi trong lực chọn nhà thầu

Theo Điều 5 Nghị định 214/2025/NĐ-CP, quy định có 04 nguyên tắc ưu đãi trong lựa chọn nhà thầu như sau:

(i) Nhà thầu tham dự thầu thuộc đối tượng được hưởng nhiều hơn một loại ưu đãi trong đánh giá về năng lực và kinh nghiệm hoặc trong đánh giá về tài chính thì khi tính ưu đãi chỉ được hưởng một loại ưu đãi có lợi nhất cho nhà thầu tương ứng với từng nội dung đánh giá về năng lực và kinh nghiệm hoặc đánh giá về tài chính.

(ii) Trường hợp tất cả các nhà thầu tham dự thầu đều được hưởng ưu đãi như nhau hoặc tất cả các nhà thầu đều không thuộc đối tượng được hưởng ưu đãi thì không cần tính ưu đãi để so sánh, xếp hạng.

(iii) Đối với gói thầu hỗn hợp, việc tính ưu đãi căn cứ tất cả các đề xuất của nhà thầu trong các phần công việc tư vấn, cung cấp hàng hóa, xây lắp. Nhà thầu được hưởng ưu đãi khi có đề xuất chi phí trong nước (chi phí tư vấn; phi tư vấn; hàng hóa có xuất xứ Việt Nam; xây lắp) từ 25% trở lên giá trị công việc của gói thầu.

(iv) Nhà thầu phải chứng minh nhà thầu, hàng hóa, dịch vụ do nhà thầu chào thuộc đối tượng được hưởng ưu đãi theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật Đấu thầu 2023.

Xem thêm >> Nghị định 214/2025/NĐ-CP PDF: Hạn mức chỉ định thầu mới nhất áp dụng từ tháng 8 2025

3. Các hình thức lựa chọn nhà thầu

Theo Điều 20 Luật Đấu thầu 2023 (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 12 Điều 1 Luật số 90/2025/QH15), quy định về hình thức lựa chọn nhà thầu như sau:

1. Các hình thức lựa chọn nhà thầu bao gồm:

a) Chỉ định thầu, lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt, đặt hàng, mua sắm trực tiếp;

b) Đấu thầu rộng rãi, chào hàng cạnh tranh, đấu thầu hạn chế;

c) Tự thực hiện, tham gia thực hiện của cộng đồng, đàm phán giá.

2. Trường hợp phát sinh hình thức lựa chọn nhà thầu khác quy định tại khoản 1 Điều này, có tính ưu việt, sử dụng phương tiện điện tử tiến bộ, hiện đại, Chính phủ quy định về hình thức, quy trình, đối tượng phù hợp với tính năng mới của Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, bảo đảm mục tiêu cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế trong đấu thầu.

Như vậy, có những hình thức lựa chọn nhà thầu như sau: chỉ định thầu, lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt, đặt hàng, mua sắm trực tiếp; Đấu thầu rộng rãi, chào hàng cạnh tranh, đấu thầu hạn chế; Tự thực hiện, tham gia thực hiện của cộng đồng, đàm phán giá.

Ngoài ra, nếu phát sinh hình thức lựa chọn nhà thầu khác những trường hợp trên mà có tính ưu việt, sử dụng phương tiện điện tử tiến bộ, hiện đại thì Chính phủ sẽ quy định về hình thức, quy trình, đối tượng phù hợp với tính năng mới của Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, bảo đảm mục tiêu cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế trong đấu thầu.

III. Thông tư 79/2025/TT-BTC về hồ sơ đấu thầu trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia

1. Toàn văn Thông tư 79/2025/TT-BTC PDF về hồ sơ đấu thầu trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia

Ngày 04/8/2025, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 79/2025/TT-BTC Hướng dẫn việc cung cấp, đăng tải thông tin về đấu thầu và mẫu hồ sơ đấu thầu trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

Theo đó, Thông tư 79/2025/TT-BTC hướng dẫn việc cung cấp, đăng tải thông tin về đấu thầu và các mẫu hồ sơ đấu thầu, gồm:

1. Mẫu lập, phê duyệt kế hoạch tổng thể lựa chọn nhà thầu, kế hoạch lựa chọn nhà thầu đối với dự án, dự toán mua sắm theo quy định tại Điều 1 và Điều 2 của Luật Đấu thầu

2. Mẫu hồ sơ đấu thầu trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn; dịch vụ phi tư vấn; hàng hoá (trừ thuốc); xây lắp; thiết kế và cung cấp hàng hóa (EP); thiết kế và xây lắp (EC); cung cấp hàng hóa và xây lắp (PC); thiết kế, cung cấp hàng hóa và xây lắp (EPC); gói thầu cung cấp thiết bị y tế, hóa chất, vật tư xét nghiệm và các dịch vụ đi kèm để vận hành thiết bị y tế (không bao gồm nhân công vận hành) theo số lượng dịch vụ kỹ thuật (sau đây gọi là gói thầu máy đặt, máy mượn) thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu thầu được tổ chức đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chào hàng cạnh tranh trong nước theo phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ, một giai đoạn hai túi hồ sơ; chào giá trực tuyến; mua sắm trực tuyến

3. Mẫu báo cáo lập hồ sơ mời thầu; tờ trình đề nghị phê duyệt hồ sơ mời thầu; quyết định phê duyệt hồ sơ mời thầu; báo cáo đánh giá hồ sơ dự thầu qua mạng gói thầu dịch vụ phi tư vấn, hàng hoá (trừ thuốc), máy đặt, máy mượn, xây lắp, EPC, EP, EC, PC theo phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ, một giai đoạn hai túi hồ sơ; gói thầu dịch vụ tư vấn

4. Các mẫu khác có liên quan đến lựa chọn nhà thầu qua mạng.

2. Thời gian xử lý hồ sơ đăng ký tham gia Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia mới nhất

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 214/2025/NĐ-CP về đăng ký và quản lý tài khoản trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia cụ thể như sau:

Điều 23. Đăng ký và quản lý tài khoản trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia – Nghị định 214/2025/NĐ-CP

3. Hồ sơ của tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều này được xử lý trong thời hạn tối đa 02 ngày làm việc kể từ khi nhận được yêu cầu trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Kết quả xử lý hồ sơ của tổ chức, cá nhân được thông báo trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, Cổng dịch vụ công quốc gia (nếu có), thư điện tử (e-mail).

Như vậy, kể từ khi nhận được yêu cầu trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia hồ sơ đăng ký tham gia Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia được xử lý trong thời hạn tối đa 02 ngày làm việc.

Lưu ý: Kết quả xử lý hồ sơ của tổ chức, cá nhân được thông báo trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, Cổng dịch vụ công quốc gia (nếu có), thư điện tử (e-mail).

Đăng tin: BỘ PHẬN TRUYỀN THÔNG

Chịu trách nhiệm nội dung: BAN PHÁP CHẾ

Duyệt bài đăng: PHÒNG CÔNG TÁC XÃ HỘI

Nguồn tin: CỔNG THÔNG TIN CHÍNH PHỦ

Link: https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=213555


NGUON-NHAN-LUC-3.jpg

Bệnh viện Lê Văn Thịnh ký kết hợp tác đào tạo với hai trường đại học y khoa lớn: Gắn kết y tế – giáo dục – nghiên cứu

Thứ hai, ngày 04/08/2025 – 14:45PM, tại BV LVT.

(BV LVT) Sáng ngày 4/8/2025, tại Phòng giao ban Bệnh viện Lê Văn Thịnh ( phương Bình Trưng, TP.HCM) đã diễn ra hai lễ ký kết hợp đồng đào tạo thực hành y khoa giữa bệnh viện và Trường Đại học Y Dược TP.HCM, Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng.
Sự kiện quan trọng này đánh dấu bước phát triển mới trong chiến lược xây dựng mô hình “bệnh viện – trường học”, hướng tới đào tạo nguồn nhân lực y tế chất lượng cao, thực hành chuyên sâu và gắn liền với thực tiễn lâm sàng.
Bệnh viện Lê Văn Thịnh ký kết hợp tác đào tạo với hai trường đại học y khoa lớn: Gắn kết y tế – giáo dục – nghiên cứu- Ảnh 1.

Ký kết hợp tác với Đại học Y Dược TP.HCM: Chuẩn hóa đào tạo, nâng cao chất lượng nhân lực y tế

Lễ ký kết hợp đồng đào tạo thực hành giữa Bệnh viện Lê Văn Thịnh (BV LVT) và Trường Đại học Y Dược TP.HCM diễn ra lúc 7h45 với sự hiện diện của PGS. TSBS Huỳnh Nghĩa Phó Hiệu trưởng trường Y, ĐHYD TpHCM , BSCKII Trần Văn Khanh, Giám đốc Bv Lê Văn Thịnh và lãnh đạo phòng ban hai đơn vị. Đây là một trong những hợp tác chiến lược trọng điểm, hướng đến mục tiêu lâu dài là đào tạo nhân lực y tế chuyên môn cao, phù hợp yêu cầu thực tiễn của hệ thống khám chữa bệnh.
Theo hợp đồng được ký kết, đối tượng thực hành là sinh viên đại học thuộc các ngành Bác sĩ, Dược sĩ và Cử nhân Y tế khóa 2025. Hai bên thống nhất sử dụng hiệu quả nguồn lực, chia sẻ cơ sở vật chất, nhân lực và chương trình đào tạo nhằm phục vụ đồng thời ba nhiệm vụ: đào tạo – nghiên cứu khoa học – chăm sóc sức khỏe nhân dân. Quan hệ hợp tác này được thiết lập trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và tuân thủ đúng các quy định pháp luật.

Tổ chức và nhân sự: Linh hoạt, hiệu quả và chuẩn hóa

Một điểm đặc biệt của hợp tác này là cơ chế bổ nhiệm chức vụ kiêm nhiệm giữa hai bên. Giảng viên ĐHYD TP.HCM đáp ứng yêu cầu sẽ được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý, chuyên môn tại các khoa, phòng thuộc BV Lê Văn Thịnh và được hưởng các chế độ, phụ cấp theo quy định. Ngược lại, cán bộ của bệnh viện cũng có thể được mời giữ vai trò quản lý tại các bộ môn, đơn vị chuyên môn của nhà trường.
Bệnh viện Lê Văn Thịnh ký kết hợp tác đào tạo với hai trường đại học y khoa lớn: Gắn kết y tế – giáo dục – nghiên cứu- Ảnh 2.
Về quản lý giảng viên, Trường yêu cầu đội ngũ giảng viên công tác tại bệnh viện tham gia trực tiếp khám chữa bệnh, giảng dạy, hướng dẫn thực hành lâm sàng và tham gia trực gác theo quy định chung. Thời gian làm việc, lịch trực, lịch giảng đều được niêm yết công khai tại tổ bộ môn để đảm bảo tính minh bạch và kỷ luật trong đào tạo.

Giảng viên và sinh viên: Ràng buộc nghĩa vụ – đảm bảo quyền lợi

Giảng viên Đại học Y Dược TP.HCM khi tham gia công tác tại bệnh viện sẽ được chi trả phụ cấp, tiền trực, thưởng lễ Tết, và các chế độ phúc lợi khác tương đương nhân viên cơ hữu tại cơ sở thực hành. Trường hợp tham gia toàn bộ hoạt động khám chữa bệnh còn được chấm công, xét thi đua tại bệnh viện.
Bệnh viện Lê Văn Thịnh ký kết hợp tác đào tạo với hai trường đại học y khoa lớn: Gắn kết y tế – giáo dục – nghiên cứu- Ảnh 3.
Về phía người học, hợp tác quy định rõ trách nhiệm và quyền lợi của bác sĩ nội trú, học viên sau đại học và sinh viên thực tập. Bác sĩ nội trú làm việc không quá 60 giờ/tuần, được tham gia điều trị và trực gác theo phân công của bệnh viện và bộ môn. Học viên chuyên khoa và sinh viên đại học thực hành lâm sàng dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của giảng viên và bác sĩ điều trị.

Nghiên cứu khoa học: Liên kết – phối hợp – đồng hành

Một nội dung quan trọng trong hợp tác là thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học chung. Giảng viên, học viên và sinh viên của trường sẽ phối hợp cùng bác sĩ, nhân viên y tế bệnh viện triển khai đề tài các cấp. Các nghiên cứu đều được thẩm định đạo đức rõ ràng và công bố kết quả minh bạch. Thành viên bệnh viện tham gia sẽ được ghi nhận là đồng tác giả, bảo đảm quyền lợi khoa học và học thuật.
Bệnh viện Lê Văn Thịnh ký kết hợp tác đào tạo với hai trường đại học y khoa lớn: Gắn kết y tế – giáo dục – nghiên cứu- Ảnh 4.
Đồng thời, hai bên cam kết chia sẻ tài nguyên thư viện, mời chuyên gia, bác sĩ tham gia hội nghị, hội thảo chuyên môn, tổ chức cập nhật y khoa định kỳ và nâng cao năng lực nghiên cứu ứng dụng thực tiễn.

Cơ sở vật chất và cơ chế hợp đồng: Rõ ràng – minh bạch – dài hạn

BV Lê Văn Thịnh cam kết bố trí giảng đường, phòng học, nơi lưu trú cho học viên; đồng thời tạo điều kiện giảng dạy, thực hành, nghiên cứu tại khoa/phòng lâm sàng. Trường ĐHYD TP.HCM sẽ đầu tư thiết bị giảng dạy, chịu trách nhiệm bảo dưỡng và đảm bảo tính hiệu quả, đúng mục đích sử dụng.
Bệnh viện Lê Văn Thịnh ký kết hợp tác đào tạo với hai trường đại học y khoa lớn: Gắn kết y tế – giáo dục – nghiên cứu- Ảnh 5.
Về pháp lý, hợp đồng đào tạo được chia làm hai cấp: Hợp đồng nguyên tắc theo từng khóa học (ký trước khi đào tạo ít nhất 30 ngày) và hợp đồng chi tiết hàng năm theo ngành – chương trình cụ thể. Cơ chế này giúp hoạt động đào tạo thích ứng linh hoạt với chính sách, quy mô và kế hoạch của từng năm học.
Thỏa thuận hợp tác có hiệu lực 5 năm và được gia hạn tự động nếu hai bên không có văn bản chấm dứt. Mọi tranh chấp nếu có sẽ được giải quyết trên tinh thần thiện chí, cùng hợp tác, ưu tiên lợi ích người học và người bệnh.

Hợp tác với Đại học Quốc tế Hồng Bàng: Mở rộng mạng lưới, kết nối đào tạo đa tầng

Vào lúc 10h sáng cùng ngày, BV Lê Văn Thịnh tiếp tục ký kết biên bản ghi nhớ và hợp đồng nguyên tắc đào tạo thực hành với Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng (HIU). Đây là sự kiện quan trọng trong quá trình mở rộng hợp tác giữa BV Lê Văn Thịnh và các cơ sở đào tạo khối ngành sức khỏe, đặc biệt trong khối ngoài công lập.
Biên bản ghi nhớ giữa hai bên đề cập tới nhiều nội dung hợp tác toàn diện:
– Đào tạo đại học và sau đại học: y khoa, răng – hàm – mặt, y học cổ truyền, điều dưỡng, hộ sinh, dược, xét nghiệm y học, phục hồi chức năng, kỹ thuật hình ảnh y học…
– Tổ chức đào tạo ngắn hạn, cấp chứng chỉ chuyên môn, kỹ thuật.
– Hợp tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, công bố bài báo.
– Đồng tổ chức hội thảo khoa học, hội nghị chuyên đề y tế.
– Hợp tác quốc tế, truyền thông tuyển dụng, hỗ trợ nguồn nhân lực.
Hợp đồng nguyên tắc giữa hai bên có hiệu lực 6 năm (2025–2031), áp dụng cho sinh viên các ngành y khoa, dược, điều dưỡng, xét nghiệm y học, kỹ thuật phục hồi chức năng… của HIU thực tập tại BV Lê Văn Thịnh.

Trách nhiệm hai bên: Rõ ràng, thiết thực

Bệnh viện có trách nhiệm tiếp nhận, bố trí, phân công hướng dẫn sinh viên thực hành theo lịch trình; hỗ trợ cơ sở vật chất, phòng học, lưu trú; đồng thời phối hợp hướng dẫn đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên và học viên.
Trường HIU chịu trách nhiệm cung cấp danh sách sinh viên, giáo trình, bảo hiểm cho người học và chi trả đầy đủ chi phí thực hành theo thỏa thuận. Ngoài ra, HIU còn có vai trò truyền thông tuyển dụng cho bệnh viện, đề xuất hợp tác quốc tế, tổ chức lớp đào tạo liên tục theo nhu cầu thực tế.
Sự hợp tác được tổ chức theo hình thức linh hoạt: từ trao đổi giảng viên, tổ chức khóa học, tới triển khai dự án nghiên cứu khoa học, cập nhật kiến thức y khoa, tổ chức hội thảo, truyền thông tuyển dụng.

BV Lê Văn Thịnh – trung tâm đào tạo thực hành trọng điểm tại TP.HCM

Với quy mô hơn 600 giường bệnh, đội ngũ bác sĩ trình độ cao và hệ thống chuyên khoa sâu, BV Lê Văn Thịnh hiện là một trong những bệnh viện đa khoa hạng I có năng lực tiếp nhận sinh viên thực hành lớn nhất khu vực phía Đông TP.HCM.
Bệnh viện hiện là cơ sở thực hành của gần 20 trường đại học, cao đẳng đào tạo khối ngành sức khỏe. Được xếp hạng theo Quyết định số 2015/QĐ-UBND ngày 21/5/2025 của UBND TP.HCM, BV Lê Văn Thịnh đang từng bước khẳng định vai trò là bệnh viện vệ tinh của nhiều đơn vị tuyến cuối như Chợ Rẫy, Từ Dũ, Ung Bướu…
Giám đốc bệnh viện, BS.CKII Trần Văn Khanh, nhấn mạnh: “Chúng tôi xác định rằng, cùng với nhiệm vụ khám chữa bệnh, BV Lê Văn Thịnh có trách nhiệm trong việc tham gia đào tạo thế hệ thầy thuốc tương lai. Việc ký kết hợp tác đào tạo hôm nay là cột mốc quan trọng, khẳng định năng lực và định hướng chiến lược của bệnh viện trong việc gắn kết chặt chẽ với các cơ sở đào tạo y khoa, đồng hành cùng ngành y tế thành phố và cả nước.”

Gắn kết thực tiễn – Chất lượng toàn diện – Phát triển bền vững

Hai lễ ký kết trong cùng buổi sáng 4/8/2025 là minh chứng sống động cho xu hướng phát triển đào tạo y tế hiện đại: liên kết chặt chẽ giữa cơ sở giáo dục và bệnh viện thực hành. Với định hướng “người học làm trung tâm”, “người bệnh là mục tiêu”, mô hình hợp tác giữa BV Lê Văn Thịnh và hai trường đại học y khoa lớn hứa hẹn đem lại lợi ích thiết thực cho tất cả các bên: giảng viên – sinh viên – bác sĩ – bệnh viện – xã hội.
Trong bối cảnh ngành y tế đang đối mặt với thách thức chất lượng nhân lực, yêu cầu hội nhập và đổi mới mô hình đào tạo, những mô hình hợp tác như trên không chỉ là xu thế mà còn là tất yếu. Bệnh viện Lê Văn Thịnh đang đóng vai trò tiên phong trong quá trình đó – một bệnh viện thực hành – giảng dạy – nghiên cứu tiêu biểu của TP.HCM và cả nước.
Tấn Tài – Trần Châu
Đăng tin: BỘ PHẬN TRUYỀN THÔNG
Duyệt bài đăng: PHÒNG CÔNG TÁC XÃ HỘI
Nguồn tin: PHÒNG ĐÀO TẠO – NCKH – CHỈ ĐẠO TUYẾN
Bài viết: BÁO THANH NIÊN VIỆT

Thông Tin Liên Hệ

BỆNH VIỆN LÊ VĂN THỊNH
Địa chỉ: 130 Lê Văn Thịnh, phường Bình Trưng, thành phố Hồ Chí Minh
Điện thoại: 1900633878
Email: bvlvthinh.tpthuduc@tphcm.gov.vn
Thời gian làm việc:
- Trong giờ: 06:00 - 16:30
- Ngoài giờ: 16:30 - 19:00
Cấp cứu: 24/7

Bản Quyền © 2021 Bệnh Viện Lê Văn Thịnh - Thiết Kế và Phát Triển bởi Hân Gia Group