Colchicin – nhữnglưu ýkhi sử dụng trong điều trị gout.
Tìm hiểu về colchicin:
Colchicin là alcaloid có nguồn gốc thực vật, chiết xuất từ các loài thực vật Colchium autumnale ( tỏi độc, bả chó, thu thủy tiên) và Gloriosa superba ( ngọt nghẹo).
Từ lâu Colchicin được dùng trong điều trị đợt gout cấp nhờ đặc tính kháng viêm của thuốc do ức chế sự di chuyển của bạch cầu, ức chế ứng động hóa học, chuyển hóa và chức năng của bạch cầu đa nhân nên giảm các phản ứng viêm. Tuy nhiên Colchicin có nhược điểm là khoảng trị liệu hẹp nếu không sử dụng đúng cách thì colchicin lại là loại thuốc có nguy cơ cao do có độc tính nghiêm trọng.
Colchicin được chỉ định dùng trong vòng 36 giờ từ lúc khởi phát cơn gout cấp ( tốt nhất trong vòng 12 hoặc 24 giờ).
Liều ban đầu là 0,5- 1,2 mg, sau đó cứ cách 1- 2 giờ lại uống 0,5 – 0,6 mg hoặc cứ cách 2 giờ lại uống 1-1,2 mg cho đến khi hết triệu chứng. Tổng liều trung bình trong một đợt điều trị là 4-6 mg.
Đau và sưng khớp thường giảm sau 12 giờ và thường hết hẳn sau khi dùng thuốc 48-72 giờ.
Nếu uống lại thì đợt thuốc mới phải cách lần uống cũ 2-3 ngày nếu không thì các tổn thương do colchicin gây ra chưa kịp hồi phục và thuốc có thể bị tích tụ.
Dự phòng viêm khớp gút tái phát (bệnh nhân có 1 hoặc vài đợt cấp mỗi năm): Uống colchicin liều thường dùng 0,6 mg/ngày, 3 – 4 lần mỗi tuần. Dự phòng cho người bị gút phải phẫu thuật (ngay cả tiểu phẫu): 0,6 mg/lần, 3 lần mỗi ngày trong 3 ngày trước và 3 ngày sau phẫu thuật.
Tác dụng không mong muốn
Thường gặp: Buồn nôn, nôn, đau bụng, với liều cao: tiêu chảy nặng, chảy máu dạ dày – ruột, nổi ban, tổn thương thận.
Tác dụng phụ thường gặp nhất khi uống colchicin là buồn nôn, đau bụng, nôn và tiêu chảy. Cần ngừng dùng colchicin nếu có các triệu chứng rối loạn tiêu hóa trên vì đó là các dấu hiệu báo động sớm về khả năng có thể sẽ bị ngộ độc nặng hơn. Trị liệu chỉ được tiếp tục khi hết các triệu chứng trên và thường sau 24 – 48 giờ. Có thể dùng các thuốc chống tiêu chảy hay thuốc làm chậm nhu động ruột để điều trị tiêu chảy do colchicin gây ra.
Điều trị dài ngày: Cần theo dõi đều đặn xem người bệnh có bị tác dụng phụ không, kiểm tra đều đặn các tế bào máu, công thức bạch cầu. Khi có các tác dụng phụ thì phải hiểu đó là dấu hiệu đầu tiên của ngộ độc. Nên ngừng dùng colchicin hoặc phải giảm liều.
Tương tác làm tăng nguy cơ ngộ độc colchicin:
Nguy cơ ngộ độc colchicin tăng khi dùng kèm với chất ức chế cytochrom P450 3A4 hoặc P- glycoprotein như các thuốc kháng nấm nhóm azol ( fluconazol), thuốc chẹn kênh calci ( diltiazem, verapamil) và kháng sinh nhóm macrolid ( erythromycin ).
Dùng đồng thời colchicin và ciclosporin làm tăng độc tính của ciclosporin.
Colchicin làm giảm hấp thu vitamin B12 do tác động độc đối với niêm mạc ruột non. Sự hấp thu này có thể được phục hồi.
Colchicin có thể tăng đáp ứng với các thuốc giống thần kinh giao cảm và thuốc ức thần kinh.
Thông tin dành cho cán bộ y tế.
Tuân thủ chế độ liều lượng được khuyến cáo trong tờ thông tin sản phẩm.
Giảm liều trên bệnh nhân lớn tuổi ( đặc biệt ở bệnh nhân trên 75 tuổi), Bệnh nhân suy giảm chức năng gan, suy giảm chức năng thận, bệnh nhân có nguy cơ suy giảm chức năng thận, bệnh nhân có nguy co suy giảm chức năng thận ( nguy cơ mất nước, dùng thuốc đồng thời) và theo dõi sát những bệnh nhân này.
Tuân thủ các chống chỉ định:
– Ở người suy thận nặng ( độ thanh thải creatinin < 30ml/ phút )
– Suy gan nặng.
Kiểm tra các nguy cơ tương tác thuốc.
Không kết hợp colchicin cùng với pristinamycin hoặc các kháng sinh macrolid ( ngoại trừ spiramycin) do có tương tác thuốc chống chỉ định.
Tư vấn bệnh nhân:
Luôn tuân thủ chế độ liều.
Hướng dẫn rõ ràng về cách dùng colchicin, đặc biệt là liều tối đa của thuốc.
Đảm bảo bệnh nhân nhận thức được rằng colchicin không phải thuốc giảm đau thông thường và không nên dùng để giảm đau không phải do nguyên nhân gút.
Dặn bệnh nhân thông báo cho bác sĩ hoặc dược sĩ tất cả các thuốc đang dùng và kiểm tra lại thông tin về sử dụng colchicin trước khi kê đơn thêm các thuốc mới.
Nhanh chóng báo cho nhân viên y tế nếu gặp triệu chứng tiêu chảy, buồn nôn, nôn. Cân nhắc giảm liều hoặc ngừng thuốc trong trường hợp này.
Ngày 24/5/2022, Uỷ ban Châu Âu đã có quyết định pháp lý cuối cùng về việc đình chỉ lưu hành dịch truền hydroxyethyl starch (HES) tại thị trường Châu Âu. Cơ quan này cũng đề xuất trong trường hợp vì lý do sức khỏe cộng đồng, từng quốc gia thành viên tại liên minh Châu Âu có thể trì hoãn việc đình chỉ lưu hành các chế phẩm chứa HES nhưng không quá 18 tháng kể từ sau thông báo của Ủy ban Châu Âu và trong thời gian đó cần đảm bảo áp dụng các biện pháp giảm thiểu nguy cơ với dịch truyền HES còn trên thị trường.
Sau biện pháp quản lý của EMA, Cơ quan quản lý Dược phẩm một số nước tại Châu Âu như Anh và Pháp đã đưa thông tin liên quan đến quyết định của EMA. Trong đó, Cơ quan quản lý Dược phẩm Anh đề cập hiện không còn chế phẩm chứa HES lưu hành tại nước này. Hiện tại, Cơ quan quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chưa có động thái quản lý mới. Thông tin cảnh báo gần nhất được FDA đưa ra vào tháng 7/2021 [4]. Cơ quan này thông báo đã hoàn thành việc đánh giá dữ liệu và thông tin về độ an toàn của các chế phẩm chứa HES. Kết quả cho thấy các nguy cơ nghiêm trọng liên quan đến việc sử dụng các chế phẩm HES, gồm có:
Tử vong, tổn thương thận cấp cần điều trị thay thế thận, chảy máu kéo dài ở những bệnh nhân phẫu thuật được điều trị bằng các chế phẩm chứa HES.
Tử vong và tổn thương thận cấp ở những bệnh nhân chấn thương kín được điều trị bằng chế phẩm chứa HES.
FDA yêu cầu thay đổi thông tin trong mục “cảnh báo được đóng khung” để làm nổi bật nguy cơ gây tử vong, tổn thương thận và chảy máu kéo dài, đồng thời đi kèm khuyến cáo không nên sử dụng các sản phẩm chứa HES trừ khi không có phương pháp điều trị thay thế thích hợp.
Các chế phẩm chứa HES được chỉ định trong trường hợp giảm thể tích tuần hoàn do mất máu cấp tính khi việc sử dụng dịch truyền đơn thuần không mang lại hiệu quả đầy đủ. Theo Hướng dẫn điều trị sốt xuất huyết của Tổ chức y tế thế giới (WHO) (2009) có thể sử dụng các dịch truyền cao phân tử chứa gelatin, dextran hoặc starch. Hướng dẫn dự phòng và kiểm soát sốt xuất huyết của WHO khu vực Đông Nam Á (2011) đưa ra một số nguyên tắc chung với truyền dịch trong sốt xuất huyết như sau:
– Nên sử dụng dịch truyền tinh thể đẳng trương trong suốt giai đoạn nặng của bệnh, trừ trẻ nhỏ <6 tháng tuổi có thể sử dụng natri clorid 0,45%.
– Có thể sử dụng dịch keo có áp suất thẩm thấu cao (>300 mOsm/l) như dextra 40 và starch ở bệnh nhân bị thoát huyết tương nặng và bệnh nhân sử dụng dịch truyền tinh thể đơn độc không có hiệu quả đầy đủ. Các dung dịch keo áp suất thẩm thấu tương đương như huyết tương và dịch thay thế huyết tương có thể không hiệu quả.
– Bổ sung dịch truyền với thể tích cao hơn 5% (tính lượng mất nước) để duy trì thể tích và tuần hoàn nội mạch.
– Thời gian điều trị bằng dịch truyền tĩnh mạch không quá 24-48 giờ đối với bệnh nhân bị sốc. Thời gian truyền dịch cho bệnh nhân không bị sốc có thể kéo dài từ 60-72 giờ.
– Ở bệnh nhân béo phì, cần áp dụng cân nặng lý tưởng để tính toán thể tích dịch truyền.
Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị sốt xuất huyết Dengue (2019) của Bộ Y tế Việt Nam cũng khuyến cáo sử dụng các dung dịch cao phân tử như dextran 40 hoặc 70, hydroxyethyl starch (HES 200.000 dalton) trong điều trị sốt xuất huyết nặng.
Cập nhật tháng 9/2022: Bổ sung danh mục 2 thuốc NSAID không được FDA cấp phép bao gồm salsalate và cholin magie trisalicylate
FDA cảnh báo rằng việc sử dụng các thuốc chống viêm nonsteroid cho phụ nữ mang thai từ 20 tuần tuổi có thể dẫn tới các vấn đề trên thận hiếm gặp nhưng nghiêm trọng cho thai nhi. Tình trạng này có thể gây ra thiểu ối và các biến chứng sau đó. Các NSAID là thuốc được sử dụng phổ biến để giảm đau và hạ sốt. Các thuốc này bao gồm aspirin, ibuprofen, naproxen, diclofenac và celecoxib. Ở phụ nữ mang thai từ 20 tuần trở lên, nước ối chủ yếu do thận của thai nhi tạo ra, do vậy các vấn đề trên thận có thê làm giảm lượng nước ối. Nước ối tạo ra lớp đệm bảo vệ và giúp phổi, hệ tiêu hóa và cơ của thai nhi phát triển.
Tránh sử dụng NSAID cho phụ nữ mang thai từ 20 tuần tuổi trở lên. Ảnh minh họa – nguồn Internet
Mặc dù vấn đề an toàn thuốc này đã được nhiều chuyên khoa biết đến, FDA muốn truyền thông các khuyến cáo rộng rãi hơn để giáo dục cho các nhân viên y tế khác và phụ nữ mang thai. Thông tin an toàn này liên quan đến tất cả các thuốc NSAID kê đơn và không kê đơn (OTC).
Đối với NSAID cần kê đơn trước khi sử dụng, FDA yêu cầu thay đổi thông tin kê đơn để mô tả các vấn đề trên thận của thai nhi có thể dẫn tới thiểu ối. FDA khuyến cáo tránh sử dụng NSAIDS ở phụ nữ mang thai từ 20 trở lên thay vì 30 tuần như trong tờ thông tin sản phẩm hiện tại. Từ khoảng 30 tuần tuổi trở đi, NSAID có thể gây ra vấn đề trên tim ở thai nhi. Trong trường hợp cần sử dụng NSAID ở phụ nữ mang thai từ 20-30 tuần, cần sử dụng thuốc với liều thấp nhất có hiệu quả và trong thời gian ngắn nhất có thể. Thông tin kê đơn cũng được thay đổi để bổ sung việc cân nhắc siêu âm theo dõi nước ối nếu sử dụng NSAID dài hơn 48 giờ.
FDA cũng cập nhật nhãn của các thuốc NSAID không kê đơn sử dụng ở người lớn. Hiện tại, nhãn của các thuốc này đã cảnh báo tránh sử dụng NSAID trong 3 tháng cuối thai kỳ vì có thể gây ra các vấn đề trên thai nhi hoặc các biến chứng trong quá trình chuyển dạ. Nhãn các thuốc đã khuyến cáo phụ nữ mang thai và phụ nữ cho con bú cần hỏi ý kiến nhân viên y tế trước khi sử dụng thuốc.
Khuyến cáo này không bao gồm aspirin liều thấp 81 mg được chỉ định trong một số tình trạng của phụ nữ mang thai ở mọi thời điểm của thai kỳ dưới sự chỉ định của bác sĩ điều trị.
Thông tin dành cho nhân viên y tế
FDA khuyến cáo nhân viên y tế nên hạn chế kê đơn NSAID cho phụ nữ mang thai từ 20-30 tuần và tránh kê đơn sau 30 tuần. Trong trường hợp cần chỉ định, nên sử dụng thuốc với liều thấp có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất có thể. Cân nhắc siêu âm theo dõi nước ối nếu thời gian điều trị dài hơn 48 giờ và ngừng NSAID nếu phát hiện thiểu ối.
Thông tin dành cho phụ nữ mang thai
Phụ nữ mang thai từ 20 tuần trở lên không nên sử dụng NSAIDs trừ trường hợp đặc biệt được bác sĩ khuyến cáo vì các loại thuốc này có thể gây ra hại cho thai nhi. Trao đổi với bác sĩ điều trị về nguy cơ và lợi ích của các thuốc này trước khi sử dụng, đặc biệt từ tuần 20 trở lên. Vì nhiều loại thuốc không cần kê đơn có chứa NSAID, cần đọc kỹ nhãn thuốc để biết chế phẩm đó có chứa NSAID hay không. Nếu không chắc chắn, hãy nhờ nhân viên y tế giúp đỡ.
Các loại thuốc khác như paracetamol đều có sẵn để hạ sốt và giảm đau trong thời kỳ mang thai. Trao đổi với dược sĩ hoặc bác sĩ để được hỗ trợ lựa chọn điều trị tốt nhất.
Các thuốc NSAID được FDA cấp phép lưu hành trên thị trường gồm có: aspirin, celecoxib, diclofenac, diflunisal, etodolac, fenoprofen, flurbiprofen, ibuprofen, indomethacin, ketoprofen, meclofenamate, mefenamic acid, meloxicam, nabumetone, naproxen, oxaprozin, piroxicam, sulindac, tolmetin.
Các thuốc NSAID không được FDA cấp phép bao gồm salsalate và cholin magie trisalicylate.
Theo dõi Website:https://benhvienlevanthinh.vn để nắm thêm nhiều thông tin về y tế nhằm bảo vệ sức khỏe cho bản thân và những người thân yêu trong gia đình.
Cục Quản lý Dược vừa có công văn số 8035/QLD-CL ngày 19/08/2022 về việc mẫu Ophazidon giả, số lô 290621, 390721, 540921 và 691121.
Kết quả kiểm nghiệm các mẫu không đạt tiêu chuẩn chất lượng về các chỉ tiêu Định tính, Định lượng (cafein) và Định lượng (paracetamol). Cục Quản lý Dược đề nghị Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương, Y tế các ngành
1- Thông báo cho các cơ sở kinh doanh, sử dụng thuốc thông tin về 04 lô thuốc giả trên có các đặc điểm, dấu hiệu phân biệt với thuốc thật
Thông tin trên nhãn thuốc: Đối chiếu vị trí trình bày Số đăng ký và Số lô sản xuất trên nhãn
Viên thuốc: nét khắc chữ “TK” trên viên thuốc giả không sắc nét; màu sắc trên viên thuốc giả không đồng nhất.
2- Phối hợp với các cơ quan truyền thông, thông tin tới các cơ sở buôn bán, sử dụng thuốc và người dân biết để không buôn bán, sử dụng sản phẩm Ophazidon giả có các dấu hiệu nhận biết nêu trên.
3- Phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan tiến hành kiểm tra các cơ sở kinh doanh thuốc trên địa bàn; xác minh thông tin và truy tìm nguồn gốc về sản phẩm Ophazidon giả nêu trên, xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm theo quy định hiện hành; kịp thời phát hiện và ngăn chặn việc sản xuất, buôn bán và sử dụng.
(Dân trí) – “Người ta có chuyên môn, tự biết phải làm gì tốt nhất. Nếu muốn nhanh thì tự ở nhà chữa. Bác sĩ cũng là con người, đâu phải cái máy” – người đàn ông ngồi chờ em ruột đang cấp cứu chia sẻ.
Những ngày gần đây, nhiều vụ người nhà bệnh nhân hành hung y bác sĩ đang trực cấp cứu liên tiếp xảy ra ở các bệnh viện tại khu vực phía Nam như TPHCM, Vĩnh Long.
Bên cạnh những ý kiến bức xúc, đề nghị xử nghiêm kẻ hành hung, vẫn có một luồng dư luận cho rằng “không có lửa làm sao có khói”, nghi ngờ chính thái độ, cách hành xử của bác sĩ là nguyên nhân xảy ra sự việc. Xã hội dường như vẫn chưa có một cái nhìn trực diện, đầy đủ về những áp lực mà nhân viên y tế cấp cứu nói riêng, nhân viên y tế làm việc tại bệnh viện công lập nói chung phải gánh chịu trong hoàn cảnh hiện tại.
Đến nơi thì bệnh nhân đã mất
Bệnh viện Lê Văn Thịnh nằm tại cửa ngõ phía Đông của TPHCM, khu vực có mật độ dân số đông và tiếp giáp tỉnh Đồng Nai, cũng như rất gần với trục đường cao tốc TPHCM – Long Thành – Dầu Giây. Chính vì vậy, nơi đây mỗi ngày phải đón hàng ngàn lượt bệnh nhân vào khám chữa bệnh, trong đó có nhiều trường hợp cấp cứu.
Đêm cuối tuần, áp lực đối với y bác sĩ làm việc tại khoa “đầu sóng ngọn gió” của bệnh viện là hết sức nặng nề.
Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Lê Văn Thịnh (Ảnh: Hoàng Lê).
21h30, trước cổng khoa Cấp cứu bao trùm một bầu không khí căng thẳng. Có người ngồi dưới bậc thềm, tay ôm trán chau mày. Người khác lại đứng tựa cột liên tục thông báo tình hình người thân qua điện thoại. Chốc chốc, họ hướng mắt về phía khu vực chăm sóc khách hàng. Dường như, ai cũng trông chờ sẽ đến lượt mình được gọi tên.”Xin mời người nhà bệnh nhân D.T.L., 90 tuổi, quê Đồng Nai…” – nghe tiếng nhân viên y tế phát lên, cô Giang (58 tuổi) vội vàng chạy tới. Khi đã xong hết mọi thủ tục viện phí và được thông tin tình trạng bệnh nhân, người phụ nữ lao ngay đến chỗ mẹ đang nằm tạm bợ. Trong căn phòng khoảng 20 giường bệnh đã kín, bà L. co mình lại, bên cạnh là một điều dưỡng truyền nước, trong khi bác sĩ khác dùng ống nghe để kiểm tra sức khỏe.
“Mẹ tôi đi tiểu ra máu mấy ngày nay. Tôi kêu xe cấp cứu đưa bà từ Nhơn Trạch (Đồng Nai) qua đây hết 700 ngàn đồng. Từ 6h tối. Tới nơi bác sĩ thấy bà yếu quá nên ưu tiên đưa vào liền rồi chụp CT” – cô Giang nói, mắt không rời ánh nhìn về phía mẹ.
Theo cô Giang, cụ L. đã đi cấp cứu ở Bệnh viện Lê Văn Thịnh lần thứ 7. Những lần trước, có lúc người con thấy bệnh nhân ra vào liên tục, khiến mẹ phải chờ khá lâu. Dù rất lo lắng cho người thân, cô vẫn kiên nhẫn đợi.
“Tôi biết mẹ đến những ngày cuối đời rồi, nhưng để ở nhà thì xót. Vào bệnh viện công như vầy đã tốt lắm rồi, bác sĩ cũng làm hết sức chứ đâu được ngơi tay” – người phụ nữ chia sẻ.
Cách cụ L. vài chiếc giường, anh Minh (tên đã thay đổi) liên tục dỗ dành bé Đ.P.L. (5 tuổi, ngụ quận Bình Thạnh). Người cha trẻ cho biết, con gái mình bị sốt, nôn ói, chảy máu mũi đến nay là ngày thứ 2. Đưa con đến khám một phòng khám tư tại TP Thủ Đức, khi nghe bác sĩ báo tình trạng bé đã nặng, hai vợ chồng anh Minh quyết định chở con vào thẳng Bệnh viện Lê Văn Thịnh.
Sau khi lấy máu của bé L. để làm xét nghiệm, điều dưỡng Nguyễn Kiều Trúc Giang (32 tuổi) giải thích cho người cha cần phải nằm lại để theo dõi. Giữa lúc nữ nhân viên y tế đang loay hoay ghi thông tin hồ sơ bệnh án cho cháu bé, chuông điện thoại của tổng đài cấp cứu vang lên.
“Cấp cứu 115 báo có một trường hợp đã hôn mê, người thân không thấy nhịp thở, có thể đã ngưng tim. Phải đến nhà gấp…” – điều dưỡng Giang nói và huy động ngay xe cấp cứu. Theo sau, bác sĩ Hồng Đại Hùng ôm vội 2 chiếc vali chứa thuốc, vật tư y tế và máy monitor chuyên dụng. Họ khẩn trương bước lên xe, giao lại căn phòng đầy ắp bệnh nhân cho 7 đồng nghiệp còn lại trong kíp trực.
Còi hụ inh ỏi phá tan màn đêm lạnh lẽo. Chiếc xe cấp cứu luồn lách với tốc độ xé gió. “Đường D3, khu dân cư Nam Long, phường Phước Long B, thấy bản đồ chỉ sắp tới rồi. Gọi cho người nhà ra đón đi” – tài xế thông báo cho nhân viên y tế. Thì ra, những thành viên ngồi trên xe không biết trước con đường mình đang đi. Chỉ có mệnh lệnh cứu người kéo họ tiến về phía trước.
Điều dưỡng Giang tâm sự, trung bình mỗi đêm thường có từ 3 đến 4 ca cấp cứu ngoại viện, chủ yếu là tai nạn giao thông. Thời gian thì vô chừng, có khi là nửa đêm, có khi 2-3h sáng. Nếu trường hợp cần cấp cứu nằm sâu trong hẻm nhỏ, nhân viên y tế phải dùng đến xe 2 bánh.
Xe cấp cứu dừng lại khi thấy người nhà chờ sẵn trước cửa. hai bóng áo trắng tiến nhanh vào trong. Nhưng mọi thứ quá muộn. Da cụ ông P.K.V. (SN 1941) tái mét, mạch và huyết áp không còn, tay chân cứng dần, bất động trên chiếc giường xếp.
Điều dưỡng Giang và bác sĩ Hùng kiểm tra lại lần nữa, rồi nhìn người nhà lắc đầu. Nghe thông báo cụ V. đã mất từ 30 phút trước, người con trai buồn bã, nhưng không bất ngờ. Anh thú thật, cụ ông bị tai biến 6 năm qua, không còn giao tiếp được, sức khỏe ngày một suy kiệt dần. Chiều nay, gia đình có gọi bác sĩ phòng mạch đến chăm sóc, định bụng sáng mai vẫn không ổn sẽ đưa đi bệnh viện. Nhưng ông đã không cầm cự được đến lúc đó…
Sau khi tiến hành thủ tục test Covid-19, ghi nhận thông tin bệnh nhân và hỗ trợ thông báo đến công an địa phương, 2 nhân viên y tế cúi người chia buồn cùng gia đình. Họ ôm máy móc bước ra xe ngoài, với nỗi buồn vì bất lực nhìn bệnh nhân ra đi, dù đã cố gắng hết sức.
“Nghề này là vậy, ban đầu mới vào làm còn sốc, giờ thì như cơm bữa. Mình không thể buồn lâu, vì còn hàng chục bệnh nhân khác đang chờ” – chị Giang nói trên đường quay về bệnh viện.
Dù các nhân viên y tế cố gắng đến thật nhanh nhưng cụ ông đã mất trước đó (Ảnh: Hoàng Lê).
Bác sĩ cũng là con người, không phải cái máy
0h, khoảnh khắc đầu tiên của ngày chủ nhật tại bệnh viện là hình ảnh một người đàn ông chạy xe máy dừng trước cổng khoa Cấp cứu. Ông cầm bảo hiểm y tế đến cho người nhà.
Tuy nhiên khi rà soát thông tin, nhân viên y tế phát hiện thẻ bảo hiểm đã hết hạn. Nghe vậy, người này tỏ ra khó chịu, liên tục cho rằng bảo hiểm mà mình mang tới có thời hạn sử dụng 5 năm.
Khi được chỉ rõ vị trí ghi mốc thời gian sử dụng, ông ta vẫn tức tối, lẩm bẩm vài câu chửi thề trước khi rời đi. Cô nhân viên chăm sóc khách hàng nhìn theo, thoáng buồn rồi tiếp tục công việc. Bởi đây không phải lần đầu cô nhận lấy phản ứng tiêu cực, dù lỗi không thuộc về mình.
0h10, một cậu thanh niên người còm nhom, dẫn theo cô gái đen nhẻm, mặt nhăn nhó ôm bụng bước vào. Đó là Quốc, 20 tuổi (tên đã thay đổi), dẫn theo em gái ruột tên N.A. (18 tuổi) đang mang bầu 5 tháng vào khoa Cấp cứu.
Khai với bác sĩ, Quốc nói trước đó em gái mình có giỡn với những đứa trẻ trong nhà, bị va chạm trúng bụng. Bác sĩ Huỳnh Trần Đức Lợi tiến đến khám và hỏi thăm, nhưng nữ bệnh nhân chỉ khóc, nhìn về phía người anh mà không trả lời.
“Những trường hợp như vậy thường nghi ngờ do bị đánh vì mâu thuẫn với người nhà. Phải chăm sóc, trấn an tinh thần để bệnh nhân bình tĩnh mới hỏi chuyện được” – Bác sĩ Lợi nói nhỏ.
Đúng như dự đoán, sau khi lấy máu và truyền nước, nữ bệnh nhân đã hết khóc. Vị bác sĩ căn dặn người anh hãy nhẹ nhàng với em mình, rồi hướng dẫn đi đến phòng siêu âm để kiểm tra thai nhi. Lúc này, chính nhân viên y tế lại lo cho bệnh nhân hơn cả người anh ruột.
1h sáng, tranh thủ bệnh nhân tạm ổn định, điều dưỡng Nguyễn Thị Vinh bước vào phòng giao ban, buộc vội thớ tóc rối, uống nhanh ngụm nước. Đã là năm thứ 13 chị Vinh công tác tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh, trong đó có 12 năm gắn bó với lĩnh vực cấp cứu. Thấy khách hỏi, ngày nào bệnh cũng đông vậy thì sao chịu nổi, chị Vinh mỉm cười, nói đêm nay như vậy đã may mắn lắm rồi.
Phút thảnh thơi ngắn ngủi lúc nửa đêm của điều dưỡng Nguyễn Thị Vinh (Ảnh: Hoàng Lê).
“Tối đến giờ, chỉ có một ca hai thanh niên đánh nhau phải chuyển lên khoa xử lý vết thương ở chân. Còn lại các bệnh nhân đều hợp tác, không thấy có say xỉn, chửi bới, dọa đánh chém gì. Với nhân viên trực cấp cứu, chỉ cần 2 chữ bình yên”, một thành viên trong kíp trực đêm 9 người nói thêm.
Gần 1h30, chú Trương Văn Bảy (65 tuổi) đã ngồi ở ghế đá trước khoa Cấp cứu hơn 3 tiếng đồng hồ. Trước đó vào 22h đêm, chú Bảy đưa người em ruột anh ruột tên Trương Thị Tám vào bệnh viện, sau cơn đau ngực dữ dội. Các bác sĩ đã cho bệnh nhân được nhận viện để đo điện tâm đồ, xét nghiệm máu. Mỗi phút chờ có kết quả chính xác bệnh tình của em gái là khoảng thời gian dài đằng đẵng với người đàn ông chạy xe ôm.
Ôm tờ báo trên tay, chú Bảy cho biết, từ lúc vào viện đã quan sát thấy rất nhiều trường hợp vào ra tại khoa Cấp cứu. Chú nhận định, ai cái nghề y cũng rất vất vả, trực đêm suốt, xui rủi còn ăn đòn. Do đó, mỗi bên nên hiểu cho nhau một chút, thay vì lúc nào cũng muốn được ưu tiên số 1.
“Người ta có chuyên môn, tự biết phải làm gì tốt nhất, mình biết gì mà ý kiến nhanh chậm. Nếu muốn nhanh thì tự ở nhà chữa. Mà khám nhanh, khám ẩu không đúng bệnh thì mới chết. Bác sĩ cũng là con người, đâu phải cái máy. Qua mùa dịch Covid-19, còn được ngồi ở đây nói chuyện là may mắn rồi”, chú Bảy tâm sự.
2h, kíp trực 4 bác sĩ, 5 điều dưỡng thấm mệt. Họ bắt đầu chia ca nhau tạm chợp mắt. Nơi nghỉ lưng của các nhân viên y tế là một căn phòng nhỏ có 3 chiếc giường tầng, ngoài mấy ổ cắm sạc điện thoại và gối tự trang bị, không có bất cứ vật dụng nào khác. Hỏi 9 người mà có 6 giường sao đủ chỗ ngủ, điều dưỡng Vinh bật cười tiết lộ: Đâu có khi nào tất cả được dừng tay cùng lúc, lúc đó bệnh nhân cấp cứu lấy ai lo!
“Nằm trên thì mát nhưng không có ổ cắm. Còn nằm dưới thì nóng và có muỗi. Nhưng điện thoại em còn đến 83%, vì cả đêm lo làm có xài đâu mà sạc”, bác sĩ Lợi nói rồi chạy lên tầng trên. Có lẽ vì quá mệt, anh thiếp đi trong phút chốc, tranh thủ nạp lại ít sức lực để cùng đồng đội tiếp tục chiến đấu với bệnh tật, khi đêm vẫn còn dài.
Ticagrelor là chất ức chế P2Y12 được chấp thuận để ngăn ngừa các biến cố tim mạch. Gần đây, một nghiên cứu trên tế bào và chuột được đăng trên JAMA Cardiology cho thấy ticagrelor có hoạt tính kháng vi khuẩn gram dương đề kháng thuốc.
Một phân tích hậu kiểm đã cho thấy nhóm bệnh nhân dùng ticagrelor trong thử nghiệm lâm sàng có tỷ lệ tử vong do nhiễm khuẩn thấp hơn so với nhóm dùng clopidogrel. Do đó các nhà nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm để xác định liệu ticagrelor có đặc tính kháng khuẩn hay không.
Các nhà nghiên cứu đã thử hoạt tính của ticagrelor và các chất chuyển hóa đối với một số vi khuẩn trên in vitro. Kết quả cho thấy:
Ticagrelor và một trong số các chất chuyển hóa có hoạt tính kháng khuẩn đối với tất cả các chủng vi khuẩn gram dương được thử nghiệm, bao gồm cả các chủng kháng thuốc.
Ticagrelor vượt trội hơn vancomycin trên các chủng aureusvà S. epidermidis kháng methicillin (MRSA và MRSE).
Ở chuột, ticagrelor liều thường dùng ức chế sự phát triển của vi khuẩn trên mô cấy ghép bị nhiễm aureus.
Nồng độ diệt khuẩn tối thiểu của ticagrelor dao động từ 20 – 40 mg/L đối với các chủng gram dương. Ticagrelor không có hoạt tính kháng vi khuẩn gram âm như Pseudomonas aeruginosa và Escherichia coli. Ticagrelor làm tăng hoạt tính diệt khuẩn của vancomycin, rifampin và ciprofloxacin. Tác động ức chế của sự hình thành màng sinh học phụ thuộc liều đã được ghi nhận trên MRSA, VRE và MRSE.
Lưu ý rằng với liều dùng để điều trị bệnh tim mạch, ticagrelor không đạt được nồng độ diệt khuẩn ở mức độ toàn thân, nhưng vẫn có thể có hoạt tính kháng khuẩn tại các vị trí nhiễm khuẩn do tác động tích lũy thuốc thông qua tiểu cầu. Các nhà nghiên cứu kêu gọi tiến hành thử nghiệm ngẫu nhiên để so sánh hoạt tính kháng khuẩn của ticagrelor với các liệu pháp chống tập kết tiểu cầu khác ở những bệnh nhân mắc bệnh tim mạch.
Bình luận
Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng giải thích hoạt tính kháng khuẩn có thể có của ticagrelor quan sát được trong các phân tích hậu kiểm của các thử nghiệm lâm sàng được tiến hành trước đây. Mặc dù tác động kháng khuẩn đáng kể trên in vitro chỉ thấy ở nồng độ cao hơn so với liều điều trị bệnh tim mạch, tác động kháng khuẩn và kháng màng sinh học mạnh của ticagrelor trong các nghiên cứu trên chuột cho thấy khả năng phối hợp với hệ miễn dịch của cơ thể. Các nghiên cứu lâm sàng trong tương lai sẽ hướng đến việc khảo sát việc sử dụng ticagrelor trong bệnh nhiễm nội mạch.
Tài liệu tham khảo
Patrizio Lancellotti, Lucia Musumeci, Nicolas Jacques, et al. Antibacterial Activity of Ticagrelor in Conventional Antiplatelet Dosages Against Antibiotic-Resistant Gram-Positive Bacteria. JAMA Cardiol. doi:10.1001/jamacardio.2019.1189. Link. Truy cập 01/06/2019.
Theo dõi website BỆNH VIỆN LÊ VĂN THỊNH (https://benhvienlevanthinh.vn/) để nắm thêm nhiều thông tin sức khỏe, dinh dưỡng, làm đẹp để bảo vệ sức khỏe cho bản thân và những người thân yêu trong gia đình.
BỆNH VIỆN LÊ VĂN THỊNH
Địa chỉ: 130 Lê Văn Thịnh, phường Bình Trưng, thành phố Hồ Chí Minh
Điện thoại: 1900633878
Email: bvlvthinh.tpthuduc@tphcm.gov.vn
Thời gian làm việc:
- Trong giờ: 06:00 - 16:30
- Ngoài giờ: 16:30 - 19:00
Cấp cứu: 24/7