Terbutalin-DT.png

17 Tháng Tư, 2026 Tin TứcTruyền Thông
Ảnh minh họa: nguồn Internet

Tên chung quốc tế: Terbutaline sulfat.

Mã ATC: R03A C03, R03C C03

Loại thuốc: Thuốc giãn phế quản, giảm cơn co tử cung, chủ vận chọn lọc beta2

Dạng thuốc và hàm lượng:

  • Viên nén 2,5 mg và 5 mg. Loại 5 mg là viên nén tác dụng kéo dài.

  • Siro 0,3 mg/ml, lọ 60 ml.

  • Ống tiêm 0,5 mg/ml hoặc 1 mg/ml.

  • Bơm xịt đơn liều 5 mg.

  • Bơm xịt định liều, có 200 liều, 0,25 mg/liều.

  • Khí dung đơn liều, 5 mg/2 ml.

  • Khí dung đa liều 50 ml,10 mg/ml.

  • Lọ bột hít chia liều 0,5 mg (turbuhaler).

  • Ngoài ra, còn có dạng terbutalin phối hợp với thuốc khác để chống hen.

Dược lý

Dược lực học

Terbutalin, một chất chủ vận beta2-adrenergic, có tác dụng kích thích thụ thể beta của hệ thần kinh giao cảm, rất ít tác dụng trên thụ thể alpha. Tác dụng chính của terbutalin là làm giãn cơ trơn phế quản và mạch ngoại vi. Thuốc làm giảm sức cản đường hô hấp, nên làm tăng thể tích thở ra gắng sức trong 1 giây (FEV1: forced expiratory volume in one second). Terbutalin không trực tiếp làm thay đổi phân áp oxygen động mạch. Thuốc kích thích sản xuất adenosin-3’,5’-monophosphat vòng (AMPc) do hoạt hoá enzym adenyl cyclase.

Giống metaproterenol và albuterol, terbutalin có tác dụng kích thích mạnh trên thụ thể beta2 của phế quản, cơ trơn tử cung, mạch máu, và tác dụng rất ít trên thụ thể beta1 của tim. Tuy nhiên, ở liều cao, terbutalin có thể gây kích thích tim và hệ thần kinh trung ương. Terbutalin đôi khi làm tăng nhịp tim, nhưng còn chưa rõ, đó là do terbutalin kích thích thụ thể beta1, hoặc do đáp ứng phản xạ với thay đổi huyết áp do giãn mạch ngoại vi.

Dược động học

Hấp thu: Khoảng 33 – 50% liều uống terbutalin sulfat được hấp thu qua đường tiêu hoá. Sau khi uống (viên nén, siro), tác dụng dễ thở xuất hiện trong vòng 30 phút, chức năng phổi được cải thiện thực chất trên lâm sàng sau 1 – 2 giờ, đạt mức tối đa trong vòng 2 – 3 giờ, và thời gian tác dụng kéo dài được 4 – 8 giờ. Loại viên tác dụng kéo dài, tác dụng xuất hiện chậm hơn, thuốc đạt tới nồng độ tối đa trong huyết tương sau 4 – 6 giờ, và tác dụng giãn phế quản kéo dài đến 12 giờ. Nửa đời của thuốc khoảng 3 – 4 giờ.

Terbutalin hấp thu tốt khi tiêm dưới da. Sau khi tiêm, tác dụng xuất hiện trong vòng 5 – 15 phút, đạt tới tác dụng đỉnh sau 30 – 60 phút, và thời gian tác dụng kéo dài từ 90 phút tới 4 giờ.

Terbutalin dạng hít hoặc khí dung, tác dụng xuất hiện nhanh chỉ sau vài phút, đạt mức tối đa trong vòng 1 giờ, và kéo dài được 4 – 6 giờ.

Phân bố: Terbutalin phân bố vào sữa mẹ với nồng độ ít nhất bằng nồng độ trong huyết tương ở cùng thời điểm. Tuy nhiên, lượng thuốc vào sữa không bằng 1% liều uống của người mẹ.

Chuyển hoá và thải trừ: Terbutalin bị chuyển hoá một phần ở gan, chủ yếu thành các chất liên hợp với acid sulfuric không còn hoạt tính. Sau khi tiêm, 90% liều dùng được thải trừ trong nước tiểu, trong đó, 30% dưới dạng các chất chuyển hoá và 60% dưới dạng thuốc không bị biến đổi; tới 3% liều dùng qua mật và được thải trừ qua phân.

Tuy nhiên, khi uống, phần lớn liều dùng được thải trừ dưới dạng chất liên hợp. Điều này chỉ rằng, thuốc có thể bị chuyển hoá ở đường tiêu hoá, hoặc bị chuyển hoá bước đầu qua gan.

Sự thải trừ thuốc và các chất chuyển hoá hoàn tất trong vòng 72 – 96 giờ sau khi dùng một liều ở tất cả các dạng thuốc dùng.

Chỉ định của Terbutalin

Điều trị triệu chứng cơn hen phế quản và đợt kịch phát của viêm phế quản mạn tính, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, phế thũng khi co thắt phế quản còn hồi phục được.

Xử trí doạ đẻ non trong một số trường hợp được chọn lọc.

Chống chỉ định Terbutalin

Dạng uống: Mẫn cảm với terbutalin và các thuốc giống thần kinh giao cảm khác.

Dạng tiêm: Liên quan đến tác dụng tim mạch của terbutalin: Suy tim nặng; nhiễm độc giáp trạng; tăng huyết áp nặng hoặc chưa kiểm soát được (kể cả tăng huyết áp do nhiễm độc thai nghén); sản giật, tiền sản giật.

Dạng xịt: Không dung nạp thuốc, khi bơm xịt thuốc xuất hiện cơn co thắt phế quản hoặc ho nhiều. Đái tháo đường.

Trong xử trí doạ đẻ non: Nhiễm khuẩn nước ối, chảy máu tử cung, kéo dài giữ thai nếu có nguy hiểm cho mẹ hoặc con (đặc biệt khi đã vỡ ối, cổ tử cung giãn trên 4 cm …).

Thận trọng khi dùng Terbutalin

Hết sức thận trọng khi dùng terbutalin để làm giảm cơn co tử cung trong doạ đẻ non vì chính nhà sản xuất đã khuyến cáo không nên dùng do có nhiều tai biến.

Cần thận trọng khi dùng terbutalin sulfat cho người bệnh bị đái tháo đường, cường giáp; có tiền sử co giật; bệnh tim, kể cả thiếu máu cơ tim và loạn nhịp tim; cao huyết áp.

Cần lưu ý các nhà thể thao là thuốc này có thể làm phản ứng dương tính khi làm test chống doping.

Thời kỳ mang thai

Để điều trị cơn hen phế quản, đã có đủ thời gian và chứng cứ để có thể kết luận là terbutalin hít, uống, hoặc tiêm dưới da không gây hại cho người mang thai. Trong khi mang thai, thuốc thường làm nhịp tim thai nhanh, song song với nhịp tim của mẹ. Nhưng khi sinh ra, rất hãn hữu còn nhịp tim nhanh. Đường huyết sau khi sinh cũng rất ít bị rối loạn. Nhưng nếu dùng thuốc trong thời kỳ chuyển dạ, cần phải chú ý đến tác dụng giãn mạch ngoại biên của thuốc giống thần kinh giao cảm beta2 và đến đờ tử cung.

Để làm giảm cơn co tử cung trong xử trí doạ đẻ non, phải chỉ định đúng cho 1 số sản phụ vì có nhiều tai biến nguy hiểm và chú ý là nhà sản xuất khuyến cáo không dùng.

Thời kỳ cho con bú

Terbutalin tiết được vào sữa mẹ, nhưng thường với lượng ít, không đủ gây hại cho trẻ bú mẹ. Tuy nhiên, vẫn cần dùng thận trọng và cân nhắc giữa lợi ích cho mẹ và tác hại cho con. Muốn dùng thuốc mà không ảnh hưởng đến con, thì nên ngừng cho con bú.

Tác dụng không mong muốn (ADR)

Khi tiêm tĩnh mạch, terbutalin có thể gây ra nhiều tai biến. Cần theo dõi thường xuyên và ngừng thuốc ngay khi có tai biến nặng. Sau đây là tai biến khi uống, hít hoặc tiêm dưới da.

Thường gặp, ADR > 1/100

Tim mạch: Tăng nhịp tim, thay đổi huyết áp, đánh trống ngực.

Thần kinh: Kích động thần kinh, run cơ, chóng mặt.

Ít gặp, 1/1000 < ADR < 1/100

Thần kinh: Nhức đầu, buồn nôn, nôn; bồn chồn, khó ngủ, hoặc ngủ lịm, ngủ gà; người yếu; nóng bừng mặt, ra mồ hôi, tức ngực, co cơ, ù tai.

Da: Đau ở chỗ tiêm dưới da; nổi mày đay, ban da.

Phổi: Phù phổi.

Chuyển hoá: Không dung nạp glucose, tăng glucose huyết, giảm kali huyết.

Hiếm gặp, ADR < 1/1000

Thần kinh: Cơn co giật, quá mẫn.

Tim mạch: Viêm mạch.

Gan: Tăng enzym gan.

Hướng dẫn cách xử trí ADR

Các tai biến khi dùng terbutalin uống, hít hoặc tiêm dưới da thường thoáng qua và không cần điều trị. Tuy nhiên, nhịp tim tăng thường kéo dài tương đối lâu.

Cần định lượng glucose huyết (terbutalin làm tăng glucose huyết), kali huyết (terbutalin làm hạ kali huyết), ghi điện tim, trước và trong quá trình điều trị. Nếu có thay đổi nhiều, phải ngừng thuốc.

Liều lượng và cách dùng Terbutalin

Cách dùng: Xem Dược thư quốc gia VN I, chuyên luận Salbutamol (trang 862, 865), phác đồ điều trị hen phế quản trong chuyên luận Điều trị hợp lý bệnh hen (trang 45).

Terbutalin là một thuốc chủ vận beta2 tác dụng nhanh và ngắn, nên chỉ dùng dạng hít khi có yêu cầu (để cắt cơn hen), không dùng thường xuyên. Nếu cần phải hít thuốc thường xuyên (tối đa 1 lần/ngày) thì phải dùng thêm thuốc chống viêm (corticoid dạng hít).

Dạng hít:

Khí dung: Người lớn và trẻ em: 250 – 500 microgam (1 – 2 xịt). Đối với triệu chứng dai dẳng, tối đa 3 – 4 lần/ngày.

Phun sương: Người lớn 5 – 10 mg ngày 2 – 4 lần; có thể dùng thêm nếu hen cấp nặng.

Trẻ em cho tới 3 tuổi: 2 mg, ngày 2 – 4 lần; 3 – 6 tuổi: 3 mg, ngày 2 – 4 lần; 6 – 8 tuổi: 4 mg ngày 2 – 4 lần; trên 8 tuổi: 5 mg, ngày 2 – 4 lần.

Hít bột (turbohaler): 500 microgam (1 lần hít); nếu triệu chứng dai dẳng có thể cho hít tới 4 lần/ngày.

Dạng viên: (khi hít không hiệu quả) Uống:

Người lớn: Liều thông thường ban đầu 2,5 – 3 mg ngày uống 3 lần, nếu cần có thể tăng tới 5 mg ngày uống 3 lần. Tổng liều không quá 15 mg/24 giờ.

Trẻ em: Không dùng thuốc viên uống cho trẻ dưới 12 tuổi. Trẻ từ 12 – 15 tuổi dùng liều 2,5 mg/lần, ngày uống 2 – 3 lần. Tổng liều không quá 7,5 mg/ngày.

Dạng tiêm: Để điều trị co thắt phế quản nặng, có thể tiêm dưới da, bắp, hoặc tiêm tĩnh mạch chậm.

Người lớn: 250 – 500 microgam, tối đa 4 lần/ngày.

Trẻ em 2 – 15 tuổi: 10 microgam/kg, tối đa 300 microgam (tổng liều)

Tiêm truyền tĩnh mạch liên tục, dùng dung dịch chứa 3 – 5 microgam/ml, truyền với tốc độ 0,5 – 1 ml/phút đối với người lớn (1,5 – 5 microgam/phút, trong 8 – 10 giờ).

Phải giảm liều đối với trẻ em.

Xử trí doạ đẻ non (mục đích để trì hoãn chuyển dạ ít nhất trong 48 giờ để áp dụng liệu pháp corticosteroid hoặc để chuyển sản phụ đến 1 đơn vị tăng cường)

Terbutalin được truyền nhỏ giọt tĩnh mạch trong dung dịch glucose 5%, nên dùng bơm tiêm tự động khi nồng độ là 100 microgam/ml. Nếu không có bơm tiêm tự động, phải dùng nồng độ 10 microgam/ml. Tốc độ ban đầu được khuyến cáo là 5 microgam/phút, cách 20 phút tăng lên thêm khoảng 2,5 microgam/phút, cho tới khi hết cơn co tử cung. Thông thường, tốc độ tới 10 microgam/phút là đủ; không được truyền với tốc độ vượt quá 20 microgam/phút. Nếu tốc độ tối đa này không làm trì hoãn chuyển dạ thì phải ngừng truyền. Trong suốt thời gian truyền, phải theo dõi mạch của mẹ để tránh tần số tim vượt quá 135 – 140 nhịp đập/phút. Phải theo dõi chặt tình trạng bồi phụ nước cho người mẹ, vì đưa dịch nhiều được coi là 1 nguy cơ chính gây phù phổi cấp. Một khi hết cơn co tử cung và truyền thuốc đã được 1 giờ, cách 20 phút lại giảm liều khoảng 2,5 microgam/phút cho tới khi đạt được liều duy trì thấp nhất mà không còn cơn co. Sau 12 giờ, có thể bắt đầu duy trì bằng đường uống, 5 mg ngày uống 3 lần. Tuy nhiên, cách dùng này không được khuyến cáo, vì nguy cơ đối với mẹ tăng sau 48 giờ. Hơn nữa, không có lợi thêm khi điều trị thêm. Cũng có thể sau khi tiêm truyền, cho tiêm dưới da 250 microgam ngày 4 lần trong 1 ít ngày trước khi bắt đầu cho uống.

Tương tác thuốc

Với thuốc kích thích giao cảm: Terbutalin không được dùng đồng thời với các thuốc kích thích giao cảm, vì khả năng làm tăng tai biến trên hệ tim mạch. Tuy nhiên, khí dung thuốc kích thích giao cảm (làm giãn phế quản), có thể được dùng để làm mất co thắt phế quản cấp, ở người bệnh vẫn đang dùng terbutalin uống kéo dài.

Với dẫn chất của theophylin: Có bằng chứng nhờ những nghiên cứu trên động vật cho thấy, dùng đồng thời thuốc giống thần kinh giao cảm (kể cả terbutalin) và dẫn chất của theophylin như aminophylin, có thể làm tăng độc tính trên tim, như gây loạn nhịp tim.

Thuốc ức chế MAO hoặc thuốc chống trầm cảm 3 vòng làm tăng tác hại trên hệ tim mạch khi phối hợp với terbutalin. Do đó, khi cần phối hợp, phải hết sức thận trọng.

Halothan: Trong các can thiệp ngoại khoa, khi phối hợp, có thể gây đờ tử cung với nguy cơ xuất huyết; ngoài ra, có thể gây nguy cơ rối loạn nhịp thất nặng.

Độ ổn định và bảo quản

Các dạng terbutalin phải được bảo quản ở nơi có nhiệt độ 15 – 30oC, tránh ánh sáng. Thuốc viên hoặc siro phải để trong đồ bao gói kín. Dung dịch thuốc tiêm không được dùng nếu thấy biến màu. Terbutalin tiêm có tuổi thọ 2 năm, còn viên là 3 năm tính từ ngày sản xuất.

Tương kỵ

Không được pha loãng dung dịch terbutalin sulfat trong các dung dịch kiềm. Thuốc ổn định trong các dung dịch có pH dưới 7.

Quá liều và xử trí

Triệu chứng: Dùng quá liều terbutalin sẽ gây ra các biểu hiện của tai biến như phần tác dụng không mong muốn, nhưng mức độ nặng hơn.

Xử trí: Điều trị quá liều cấp tính bao gồm chữa triệu chứng, liệu pháp hỗ trợ tim và hô hấp. Cần gây nôn, sau đó rửa dạ dày, nếu thuốc mới được dùng, và người bệnh còn tỉnh. Nếu người bệnh không nôn được (như người bệnh không còn nhận thức), thì rửa dạ dày sau khi đã đặt ống nội khí quản. Cho một ống nội khí quản, bơm phồng lên để ngăn hít phải các chất trong dạ dày. Dùng than hoạt có thể có ích. Phải theo dõi liên tục người bệnh cho đến khi hồi phục.

Bệnh viện Lê Văn Thịnh với đội ngũ Y Bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, tận tâm và luôn lấy Người bệnh làm trung tâm cho mọi hoạt động, nếu Người bệnh có vấn đề về sức khỏe, hay cần biết thêm thông tin hãy đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh để được tư vấn, thăm khám và điều trị.

DS. Trần Thị Diễm Trang

TLTK: Dược thư Quốc gia Việt Nam 2022


Racecadotril.jpg

17 Tháng Tư, 2026 Tin TứcTruyền Thông
Ảnh minh họa: nguồn Internet

Hoạt chất: Racecadotril

Loại thuốc: Chống tiêu chảy

Dạng thuốc và hàm lượng:

  • Bột pha hỗn dịch uống: 10 mg, 30 mg

  • Viên nang, viên nén bao phim 100 mg

Dược lực học

Racecadotril là tiền chất của thiorphan, một chất ức chế enkephalinase. Nó đạt được tác dụng chống bài tiết bằng cách bảo vệ các enkephalins khỏi sự phân hủy của enzym, do đó kéo dài tác dụng của chúng tại các khớp thần kinh enkephalinergic trong ruột non và giảm quá trình bài tiết.

Dược động học

Hấp thu: Hấp thu nhanh chóng. Thời gian đạt đỉnh ức chế enkephalinase trong huyết tương: Khoảng 2 giờ.

Phân bố: Gắn kết với protein huyết tương: 90% (chủ yếu là albumin).

Chuyển hóa: Được thủy phân nhanh chóng thành thiorphan, chất chuyển hóa có hoạt tính, lần lượt được chuyển thành chất chuyển hóa không có hoạt tính.

Bài tiết: Chủ yếu qua nước tiểu (81,4%), qua phân (khoảng 8%). Thời gian bán thải: Khoảng 3-4 giờ.

Công dụng của Racecadotril

Tiêu chảy cấp tính ở trẻ sơ sinh và trẻ em (> 3 tháng tuổi).

Liều dùng và cách dùng Racecadotril

Dùng đường uống. Có thể được thực hiện cùng hoặc không với thức ăn.

Tiêu chảy cấp tính

Người lớn: 100 mg x 3 lần/ngày. Tiếp tục điều trị cho đến khi ghi lại 2 lần tiêu phân bình thường. Thời gian điều trị tối đa: 7 ngày.

Trẻ em: Kết hợp với uống bù nước: Liều khuyến cáo: 1,5 mg/kg/liều. Liều tối đa: 6mg/kg mỗi ngày.

≥ 3-9 tháng, < 9 kg: 10 mg x 3 lần/ngày.

9-30 tháng, 9-13 kg: 20 mg x 3 lần/ngày.

30 tháng đến 9 tuổi, 13-27 kg: 30 mg x 3 lần/ngày.

> 9 tuổi, > 27 kg: 60 mg x 3 lần/ngày.

Tiếp tục điều trị cho đến khi ghi lại 2 lần tiêu phân bình thường. Thời hạn tối đa: 7 ngày.

Sự phục hồi: Thêm hạt vào thức ăn, đã được tán nhỏ trong một cốc nước hoặc trong bình bú, trộn đều và cho trẻ dùng ngay.

Chống chỉ địng Racecadotril

Mẫn cảm với racecadotril.

Trẻ không dung nạp fructose,.

Hội chứng kém hấp thu glucose hoặc thiếu hụt sucrase-isomaltase (dạng hạt).

Thận trọng khi dùng Racecadotril

Bệnh nhân có tiền sử phù mạch.

Trẻ em.

Tác dụng không mong muốn

Đáng kể: Phù mạch.

Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất: Viêm amidan.

Rối loạn da và mô dưới da: Phát ban, ban đỏ, mày đay, hồng ban đa dạng, ban đỏ dạng nốt, ban sẩn, sẩn, ngứa.

Có thể gây tử vong: Phản ứng trên da.

Thực phẩm làm chậm hoạt động cao điểm khoảng 90 phút.

Bệnh viện Lê Văn Thịnh với đội ngũ Y Bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, tận tâm và luôn lấy Người bệnh làm trung tâm cho mọi hoạt động, nếu Người bệnh có vấn đề về sức khỏe, hay cần biết thêm thông tin hãy đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh để được tư vấn, thăm khám và điều trị.

DS. Trần Thị Diễm Trang

TLTK: Dược thư Quốc gia Việt Nam 2022


PYRIDOSTGMIN.jpg

Ảnh minh họa: nguồn Internet

Tên chung quốc tế: Pyridostigmine bromide.

Mã ATC: N07A A02.

Loại thuốc: Thuốc giống thần kinh đối giao cảm, thuốc chống nhược cơ.

Dạng thuốc và hàm lượng: Ống tiêm 2 ml (5 mg/ml; Siro 60 mg/5 ml; viên nén 60 mg; viên nén giải phóng kéo dài 180 mg (60 mg được giải phóng ngay lập tức và 120 mg giải phóng sau 8 – 12 giờ).

Dược lý và cơ chế tác dụng

Pyridostigmin bromid là một hợp chất amoni bậc bốn gây ức chế hoạt tính enzym cholinesterase có tác dụng giống neostigmin, nhưng tác dụng xuất hiện chậm và kéo dài hơn, vì thế thuốc được dùng chủ yếu trong điều trị bệnh nhược cơ. Khoảng cách giữa các liều của pyridostigmin dài hơn so với neostigmin, tạo thuận lợi trong điều trị bệnh nhược cơ. Vì thế có thể kết hợp pyridostigmin với neostigmin trong điều trị bệnh nhược cơ, thí dụ dùng pyridostigmin trong ngày và tối, neostigmin dùng vào buổi sáng.

Thuốc gây đáp ứng cholinergic toàn thân bao gồm tăng trương lực cơ xương và cơ ruột, co đồng tử, co thắt tử cung, co thắt phế quản, chậm nhịp tim, tăng tiết ở các tuyến ngoại tiết. Pyridostigmin có tác dụng giống cholin trực tiếp trên cơ xương.

Pyridostigmin được hấp thu ít, với tỷ lệ thay đổi, qua đường tiêu hóa; chỉ khoảng 40% liều uống pyridos-
tigmin được hấp thu, một lượng lớn bị phá hủy ở dạ dày ruột. Pyridostigmin được hấp thu nhiều nhất ở tá tràng. Bị thủy phân bởi cholinesterase và cũng bị chuyển hóa ở gan. Pyridostigmin được đào thải chủ yếu qua nước tiểu (ở cả dạng không đổi và dạng bị chuyển hóa). Một phần rất nhỏ được thải qua sữa.

Pyridostigmin phân bố ở dịch ngoại bào. Thuốc không vào được hệ thần kinh trung ương. Thuốc qua nhau thai và làm giảm hoạt tính cholinesterase huyết tương thai nhi sau khi uống thuốc liều cao.

Khi uống, thuốc thường có tác dụng sau 30 – 45 phút và kéo dài trong 3 – 6 giờ. Khi tiêm tĩnh mạch, lực cơ tăng lên sau 2 – 5 phút và sự cải thiện có thể tiếp tục trong 2 – 3 giờ ở phần lớn người bệnh. Sau khi tiêm bắp, thuốc bắt đầu có tác dụng trong vòng 15 phút.

Nửa đời thải trừ của thuốc là 1,49 giờ đối với tiêm bắp và 1,5 – 4,25 giờ, khi uống.

Chỉ định của Pyridostigmin

Pyridostigmin được sử dụng trong điều trị bệnh nhược cơ, như một thuốc đảo nghịch hoặc đối kháng với các thuốc giãn cơ không khử cực kiểu cura.

Chống chỉ định Pyridostigmin

Chống chỉ định dùng pyridostigmin ở người đã biết có quá mẫn với các thuốc kháng cholinesterase, hoặc ở người tắc ruột và tắc đường tiết niệu kiểu cơ học.

Thận trọng khi dùng Pyridostigmin

Cần dùng thận trọng pyridostigmin ở người động kinh, hen phế quản, nhịp tim chậm, mới tắc mạch vành, cường đối giao cảm, cường tuyến giáp, loạn nhịp tim hoặc loét dạ dày. Tránh uống liều lớn ở những người mắc chứng ruột kết to hoặc giảm nhu động dạ dày – ruột.

Ở một số ngưòi, pyridostigmin bromid kéo dài tác dụng hơn muối của neostigmin, trong những trường hợp như vậy thường hay gây các cơn tăng tiết acetyl-cholin.

Khi sử dụng pyridostigmin để điều trị bệnh nhược cơ, cần nhớ rằng, với cùng một liều thuốc kháng cholines-terase, có thể có những đáp ứng khác nhau ở những nhóm cơ riêng biệt: gây yếu ở một nhóm cơ này trong khi đó lại làm tăng lực cơ ở nhóm khác. Những cơ ở cổ và các cơ nhai và nuốt thường là nhóm cơ đầu tiên bị yếu đi khi dùng thuốc quá liều. Phải đo dung tích sống bất cứ khi nào tăng liều để có thể điều chỉnh liều thuốc kháng cholinesterase nhằm đảm bảo tốt chức năng hô hấp.

Pyridostigmin qua được nhau thai và bài tiết vào sữa mẹ, vì thế phải sử dụng thận trọng đối với người mang thai và cho con bú.

Sử dụng thuốc có tác dụng chống tiết cholin hoặc tác dụng giống như atropin phải hết sức cẩn thận, khi người bệnh cũng được điều trị bằng pyridostigmin vì các triệu chứng quá liều có thể bị che lấp bởi pyridos-tigmin, hoặc ngược lại, các triệu chứng dùng pyridos-tigmin quá liều cũng có thể bị che lấp bởi atropin và các thuốc giống atropin.

Thời kỳ mang thai

Tính an toàn của pyridostigmin ở người mang thai vẫn chưa được xác định, nhưng những thuốc kháng cholinesterase có thể gây kích thích tử cung và gây đẻ non khi tiêm tĩnh mạch cho người mang thai gần kỳ sinh. Tuy nhiên, pyridostigmin đã được sử dụng trong thai kỳ mà không gây dị dạng cho thai.

Ðã quan sát được yếu cơ tạm thời ở khoảng 10 – 20% trẻ sơ sinh, do mẹ đã dùng thuốc kháng cholinesterase để điều trị bệnh nhược cơ.

Vì vậy, việc sử dụng pyridostigmin cho người mang thai cần phải cân nhắc giữa lợi ích và nguy hại cho mẹ và con.

Thời kỳ cho con bú

Pyridostigmin bài tiết một phần vào sữa mẹ, vì vậy không nên dùng khi cho con bú.

Tác dụng không mong muốn (ADR)

Tác dụng không mong muốn hay gặp nhất là nôn. Tác dụng không mong muốn thường liên quan tới quá liều và thường thuộc 2 kiểu: Các triệu chứng giống muscarin, và các triệu chứng giống nicotin.

Triệu chứng chính của quá liều trong trường hợp bệnh nhược cơ là làm tăng yếu cơ.

Thường gặp, ADR > 1/100

Toàn thân: Tăng tiết mồ hôi, chán ăn.

Tuần hoàn: Nhịp tim chậm, nhưng thỉnh thoảng lại nhịp tim nhanh.

Tiêu hóa: Buồn nôn, nôn, ỉa chảy, tăng nhu động, đau bụng, tiết nước bọt.

Hô hấp: Tăng tiết dịch, co thắt phế quản, viêm mũi.

Thần kinh: Yếu cơ, liệt nhẹ, co giật, co cứng cơ cục bộ.

Tiết niệu – sinh dục: Tiểu tiện không chủ động.

Mắt: Co đồng tử, tăng tiết nước mắt, mờ mắt, viêm kết mạc.

Ít gặp, 1/1000 < ADR < 1/100

Toàn thân: Chóng mặt.

Tuần hoàn: Tăng huyết áp hoặc hạ huyết áp.

Thần kinh trung ương: Thao thức, mất ngủ.

Hiếm gặp, ADR < 1/1000

Da: Ngoại ban, rụng tóc.

Liều lượng và cách dùng Pyridostigmin

Cách dùng: Pyridostigmin bromid có thể uống hoặc tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch rất chậm.

Liều lượng: Bệnh nhược cơ: Liều lượng có thể thay đổi từng ngày, tùy theo bệnh đỡ hay nặng lên, stress về cảm xúc và thể lực của người bệnh. Liều phải điều chỉnh để người bệnh dùng liều cao lúc phải gắng sức nhiều nhất (thí dụ 30 – 45 phút trước khi ăn để giúp người bệnh khi khó nuốt). Pyridogtigmin uống cùng với sữa hoặc thức ăn gây ít tác dụng phụ muscarinic.

Dạng uống (siro và viên nén)

Ðiều trị bệnh nhược cơ:

Người lớn và thiếu niên: Trước hết dùng liều 30 đến 60 mg, cách 3 đến 4 giờ một lần. Sau đó, liều duy trì từ 60 mg đến 1200 mg mỗi ngày (thường dùng 600 mg).

Trẻ em: Tổng liều hàng ngày thường là 7 mg/kg thể trọng (hoặc 200 mg/m2 diện tích cơ thể) chia làm 5 hoặc 6 lần. Có thể dùng liều đầu tiên là 30 mg cho trẻ dưới 6 tuổi hoặc 60 mg cho trẻ 6 – 12 tuổi. Liều này được tăng thêm dần 15 – 30 mg hàng ngày, cho đến khi đạt được hiệu quả mong muốn, nhưng tổng liều không vượt quá 360 mg/ngày.

Dạng uống, tác dụng kéo dài (viên nén giải phóng hoạt chất từ từ)

Ðiều trị bệnh nhược cơ nặng:

Người lớn và thiếu niên: 180 mg đến 540 mg/lần; 1 hoặc 2 lần/ngày, cách nhau ít nhất 6 giờ.

Dạng tiêm

Người lớn và thiếu niên: 2 mg/lần; tiêm bắp hoặc tĩnh mạch, cách 2 – 4 giờ một lần (xấp xỉ 1/30 của liều uống thường dùng).

Trẻ em: 50 đến 150 microgam/kg thể trọng, tiêm bắp 4 đến 6 giờ một lần.

Bệnh nhược cơ ở trẻ sơ sinh: Neostigmin thường được ưa dùng hơn, tuy pyridostigmin cũng đã được dùng. Liều từ 50 – 150 microgam/kg, tiêm bắp hoặc 5 – 10 mg uống cách 4 – 6 giờ/lần. ít khi phải điều trị quá 8 tuần tuổi.

Ghi chú: Trên thực tế, chúng ta có thể sử dụng dung dịch pyridostigmin 0,25% – 0,5% để kích thích ruột khi bị liệt ruột sau phẫu thuật (tiêm dưới da, 1 – 3 ống/ngày; ống 1 ml; 0,1%).

Ðối kháng thuốc giãn cơ không khử cực:

Liều từ 10 đến 20 mg, tiêm tĩnh mạch chậm (0,1 – 0,25 mg/kg). Trước đó, tiêm tĩnh mạch atropin sulfat 0,6 – 1,2 mg để chống lại bất cứ tác dụng muscarinic nào.

Tương tác thuốc

Pyridostigmin dùng đường tiêm đối kháng một cách hiệu quả tác dụng của các thuốc giãn cơ không khử cực (như tubocurarin, metocurin, galamin, hoặc pancuronium), và tương tác này được sử dụng có lợi trong điều trị nhằm đảo nghịch sự giãn cơ sau phẫu thuật.

Atropin đối kháng với tác dụng muscarinic của pyridostigmin, và tương tác này được sử dụng để chống các tác dụng muscarinic khi ngộ độc pyridostigmin.

Dexpanthenol có thể hiệp đồng tác dụng với pyridostigmin bằng cách tăng sản xuất acetylcholin.

Các thuốc kháng cholinesterase đôi khi có hiệu lực để đảo nghịch sự chẹn thần kinh – cơ do các kháng sinh aminoglycosid gây ra. Tuy nhiên các kháng sinh aminoglycosid, các thuốc tê và một số thuốc mê, thuốc chống loạn nhịp, các thuốc gây cản trở dẫn truyền thần kinh cơ phải được sử dụng thận trọng ở người nhược cơ nặng, và liều của pyridostigmin có thể phải tăng lên sao cho phù hợp.

Ðộ ổn định và bảo quản

Bảo quản dưới 40oC, tốt nhất ở khoảng 15 – 30oC, bảo quản kín. Tránh xa tầm với của trẻ em, tránh nóng và ánh sáng trực tiếp. Không để thuốc tiêm và siro đông băng.

Tương kỵ

Tránh dùng pyridostigmin và atropin trong cùng một bơm tiêm.

Quá liều và xử trí

Dấu hiệu và các triệu chứng của quá liều (cơn tăng tiết acetylcholin)

Tác dụng muscarinic: Ðau quặn bụng, tăng nhu động ruột, ỉa chảy, buồn nôn, nôn, tăng tiết nước bọt và dịch phế quản, toát mồ hôi, co đồng tử.

Tác dụng nicotinic: Yếu cơ, co cứng cơ cục bộ và chuột rút.

Thần kinh trung ương: Kích động, thao thức, mất phản xạ, nói líu nhíu.

Tuần hoàn: Chậm nhịp tim, hạ huyết áp, ngừng tim.

Tiêu hóa: Các triệu chứng tiêu hóa xảy ra sớm nhất sau khi uống thuốc: chán ăn, buồn nôn, nôn, chuột rút bụng, ỉa chảy.

Ðiều trị:

Ngừng thuốc ngay lập tức. Những tác dụng muscarinic là nặng nhất và có thể kiểm soát chúng bằng atropin
(2 mg, tiêm tĩnh mạch, sau đó tiêm bắp, cứ 2 – 4 giờ một lần, tùy theo cần thiết, để giảm khó thở), nhưng phải tránh quá liều atropin.

Những tác dụng trên cơ xương sau quá liều pyridostigmin không dịu bớt khi điều trị bằng atropin.

Người bệnh ngộ độc do dùng thuốc kháng cholinesterase không được dùng aminophylin, morphin, phenothiazin, thuốc an thần kinh, reserpin, sucinylcholin, theophylin hoặc không được truyền một lượng dịch lớn.

Bệnh viện Lê Văn Thịnh với đội ngũ Y Bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, tận tâm và luôn lấy Người bệnh làm trung tâm cho mọi hoạt động, nếu Người bệnh có vấn đề về sức khỏe, hay cần biết thêm thông tin hãy đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh để được tư vấn, thăm khám và điều trị.

DS. Trần Thị Diễm Trang

TLTK: Dược thư Quốc gia Việt Nam 2022


Screenshot-2026-04-10-152002.png

9 Tháng Tư, 2026 Tin TứcTruyền Thông
Khảo sát trên 500 CISO (Chief Information Security Officer – giám đốc an ninh thông tin) và lãnh đạo công nghệ từ VNETWORK cho thấy: doanh nghiệp Việt không thiếu quyết tâm bảo mật, mà cần tối ưu lại cách phân bổ đầu tư và nâng cao năng lực vận hành.
Theo kết quả khảo sát của VNETWORK, chỉ 33% doanh nghiệp có hệ thống bảo mật nhiều lớp – Ảnh: DNCC

Năm 2025, các cuộc tấn công mạng nhắm vào doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục gia tăng cả về tần suất lẫn mức độ thiệt hại. Trong bối cảnh chuyển đổi số được đẩy mạnh ở mọi lĩnh vực, bề mặt tấn công mở rộng nhanh chóng, vượt xa năng lực phòng thủ hiện có của phần lớn tổ chức.

Báo cáo “Toàn cảnh An ninh mạng Doanh nghiệp Việt Nam 2026” của VNETWORK đặt ra một câu hỏi cấp thiết: vấn đề không nằm ở việc có nên đầu tư cho bảo mật hay không, mà là đầu tư như thế nào cho hiệu quả.

Đầu tư bảo mật chưa đi cùng hiệu quả bảo vệ

Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư cho bảo mật, nhưng đầu tư không đồng nghĩa với được bảo vệ. Chỉ 33,7% doanh nghiệp triển khai giải pháp bảo mật theo mô hình nhiều lớp có sự liên kết giữa các thành phần. Phần còn lại vẫn vận hành các công cụ riêng lẻ, không chia sẻ dữ liệu với nhau, khiến hiệu quả bảo vệ thực tế thấp hơn nhiều so với chi phí đã bỏ ra.

Sự thiếu kết nối này tạo ra những điểm “mù” ngay giữa các lớp phòng thủ mà doanh nghiệp tưởng đã có.

Một cảnh báo từ endpoint không được đối chiếu với log email hay VPN, khiến hành vi bất thường dù xuất hiện ở nhiều nơi vẫn không được nhận diện là mối nguy. Kẻ tấn công lợi dụng chính điều đó để di chuyển bên trong hạ tầng, tích lũy quyền truy cập và mở rộng phạm vi kiểm soát trước khi doanh nghiệp kịp phát hiện.

Trên thực tế, nhiều vụ ransomware không xảy ra ngay lập tức mà là kết quả của quá trình xâm nhập âm thầm kéo dài hàng tuần, thậm chí hàng tháng trước đó.

Bức tranh tấn công phản ánh khoảng trống phòng thủ

Dữ liệu khảo sát cho thấy bức tranh tấn công năm 2025 phản ánh trực tiếp những điểm yếu trong hệ thống bảo mật doanh nghiệp.

DDoS dẫn đầu với 57% doanh nghiệp từng bị ảnh hưởng, cho thấy hạ tầng mạng vẫn là tuyến phòng thủ mỏng nhất. Ransomware và malware ghi nhận ở mức 41,3%, brute force nhắm vào VPN và RDP ở mức 36,3%, phishing email ở mức 34,6%.

Điểm chung là không đòi hỏi kỹ thuật tấn công tinh vi. Chúng khai thác đúng những chỗ doanh nghiệp đang bỏ ngỏ: quyền truy cập không được giám sát, cấu hình hệ thống chưa được chuẩn hóa và nhân sự chưa được đào tạo đầy đủ về nhận thức an ninh mạng.

Brute force là ví dụ điển hình, chỉ cần thử hàng loạt mật khẩu nhắm vào VPN và RDP cho đến khi thành công. Khi đăng nhập được, phiên truy cập trông hoàn toàn hợp lệ và không kích hoạt cảnh báo nếu thiếu cơ chế giám sát hành vi. Đây thường là bước khởi đầu dẫn đến leo thang quyền hạn và cuối cùng là ransomware.

Những mối đe dọa nổi bật năm 2025 – Ảnh: DNCC
Rủi ro pháp lý song hành rủi ro kỹ thuật

Thiệt hại từ tấn công mạng không chỉ dừng lại ở vận hành. Với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15, mỗi sự cố để lộ dữ liệu người dùng đều có thể kéo theo trách nhiệm pháp lý trực tiếp lên ban lãnh đạo.

Tuy nhiên, nghiên cứu ghi nhận chỉ 16,3% doanh nghiệp đã triển khai đầy đủ chính sách bảo vệ dữ liệu cá nhân trên toàn tổ chức. 83,7% còn lại đang đối mặt với cả rủi ro kỹ thuật lẫn trách nhiệm pháp lý mà chưa có biện pháp kiểm soát phù hợp.

Nói cách khác, bảo mật không còn là bài toán của riêng bộ phận IT. Khi một sự cố xảy ra mà chính sách bảo vệ dữ liệu chưa được triển khai đầy đủ, câu hỏi đặt ra không chỉ là hệ thống bị vá như thế nào mà là ai chịu trách nhiệm trước pháp luật. Trong bối cảnh đó, chi phí của việc chậm hành động sẽ lớn hơn nhiều so với chi phí đầu tư phòng thủ từ trước.

Hiện trạng triển khai chính sách bảo vệ dữ liệu (Nghị định 13/2023) của doanh nghiệp Việt Nam – Ảnh: DNCC
Tích hợp thay vì chắp vá

Nghiên cứu của VNETWORK chỉ ra rằng bài toán cốt lõi không phải là thiếu giải pháp trên thị trường, mà là thiếu năng lực tích hợp và vận hành liên tục. Khi không thể tự xây dựng đội ngũ chuyên trách, việc bổ sung thêm công cụ riêng lẻ chỉ làm phức tạp thêm hệ sinh thái bảo mật vốn đã phân mảnh.

Năng lực hạ tầng của VNETWORK phủ sóng 146 quốc gia với 2.300 PoPs và đội ngũ SOC (Trung tâm Điều hành An ninh mạng) hỗ trợ 24/7- Ảnh: DNCC

Điểm khởi đầu để giải quyết bài toán đó là hiểu rõ hệ thống của mình đang ở đâu. Báo cáo “Toàn cảnh An ninh mạng Doanh nghiệp Việt Nam 2026” đi sâu vào từng lớp phòng thủ, chỉ ra điểm yếu cụ thể và đưa ra khuyến nghị thực tế cho từng tình huống.

Với những tổ chức đang cần đánh giá lại trước khi đưa ra quyết định đầu tư bảo mật tiếp theo, đây là tài liệu không nên bỏ qua.

 

Nguồn: tuoitre.vn


Thông Tin Liên Hệ

BỆNH VIỆN LÊ VĂN THỊNH
Địa chỉ: 130 Lê Văn Thịnh, phường Bình Trưng, thành phố Hồ Chí Minh
Điện thoại: 1900633878
Email: bvlvthinh.tpthuduc@tphcm.gov.vn
Thời gian làm việc:
- Trong giờ: 06:00 - 16:30
- Ngoài giờ: 16:30 - 19:00
Cấp cứu: 24/7

Bản Quyền © 2021 Bệnh Viện Lê Văn Thịnh - Thiết Kế và Phát Triển bởi Hân Gia Group