Picture16-1.png

Ảnh minh họa: nguồn Internet.

1. Chỉ định:

_Bệnh trầm cảm nặng.

Các dạng rối loạn lo âu như bệnh lo âu xã hội ( còn gọi là chứng ánh ảm xã hội) hay các rối loạn lo âu phổ biện.

_Rối loạn ám ảnh cưỡng chế.

_Rối loạn hoảng loạn có kèm hoặc không kèm ám ảnh sợ khoảng trống.

_Rối loạn căng thẳng sau chấn thương.

2. Liều dùng:

Dùng thuốc theo chỉ định cảu bác sĩ chuyên khoa tâm thần.

Trầm cảm: Liều khuyến cáo 20mg/ngày, có thể tăng dần mỗi 10mg đến 50mg mỗi ngày theo chỉ định của bác sĩ.

Bệnh lo âu xã hội/chứng ám ảnh xã hội và các rối loạn lo âu phổ biến: Liều khuyến cáo 20mg/ ngày. Nếu triêu chứng bệnh vẫn còn có thể tăng dần mỗi 10mg đến tối đa 50mg/ ngày theo chỉ định của bác sĩ.

Rối loạn ám ảnh cưỡng chế: Liều khuyến cáo 40mg/ ngày. Liều khởi đầu 20mg có thể tăng dần mỗi 10mg cho đến liều khuyến cáo. Liều tối đa 60mg/ngày .

Rối loạn hoảng loạn: Liều khuyến cáo 40mg/ngày, nên khởi đầu với liều 10mg và có thể tăng dần mỗi 10mg cho đến liều khuyến cáo theo chỉ định của bác sĩ. Liều tối đa 60mg/ngày.

Rối loạn căng thẳng sau chấn thương: Liều khởi đầu  khuyến cáo 20mg/ngày. Một số bệnh nhân có thể đạt được lợi ích điều trị sau khi tăng dần mỗi 10mg  tùy theo đáp ứng lâm sàng. Liều tối đa hằng ngày 50mg.

Suy gan hoặc thận: Nồng độ paroxetin trong huyết tương tăng lên ở các bệnh nhân suy thận nặng ( độ thanh thải creatinine <30ml/phút) hoặc suy gan nặng. Những bệnh nhân này nên dùng liều thấp hơn liều khuyến cáo thông thường cho người lớn.

Người già: Liều nên được bắt đầu ở mức 20mg/ngày và tăng dần mỗi 10mg đến liều tối đa 40mg/ngày theo chỉ định của bác sĩ.

Trẻ em: Không khuyến cáo sử dụng paroxetin.  

*Nếu quên dùng một liều, nên uống ngay khi nhớ ra trừ khi gần đến thời gian dùng liều tiếp theo. Không dùng gấp đôi liều ở lần kế tiếp để bù cho liều đã quên.

3. Những lưu ý khi sử dụng thuốc:

Thông báo cho bác sĩ nếu bệnh nhân đang dùng hoặc vừa mới ngưng dùng các thuốc sau:

_Thuốc tăng tiết serotonin.

_Pimozid.

_Enzym chuyển hóa thuốc như ( carbamazepine, rifampicin, phenobarbital, phenytonin).

_Fosamprenavir/ritonavir.

_ Procyclidin.

_Thuốc bị chuyển hóa bởi enzyme CYP2D6 ( một số thuốc chống trầm cảm 3 vòng như clomipramine, nortriptylin và desipiramin); thuốc an thần nhóm phenothiazine như ( perphenazin và thoridazin); risperidon; atomoxetin; một số thuốc chống loạn nhịp typ 1C (như propafenon và flecanid) và metoprolol.

_Thuốc chống đông đường uống.

_Thuốc kháng viêm không steroid (NSAID), acid acetylsalicylic, và các thuốc chống kết tập tiểu cầu khác.

_Thuốc tác động lên pH dạ dày.

*Nên tránh dùng rượu trong thời gian dùng thuốc.

4. Dược lực học:

Cơ chế tác động: Paroxetin là thuốc ức chế thu hồi 5-hydroxytryptamin mạnh và có chọn lọc và tác dụng chống trầm cảm của thuốc được cho là có liên quan với tác dụng ức chế đặc hiệu 5-HT ở các tế bào não.

5. Dược động học:

  • Hấp thu:

Paroxetin được dung nạp tốt sau khi dùng đường uống và chịu sự chuyển hóa lần đầu qua gan.

Nồng độ ổn định đạt được từ 7-14 ngày sau khi khởi đầu điều trị và dược động học không thay đổi trong suốt thời gian điều trị.

  • Phân bố:

Paroxetin được phân bố ở các mô, gắn kết khoảng 95% với protein huyết tương ở các nồng độ điều  trị. Không thấy có sự tương quan giữa nồng độ huyết tương của paroxetine và tác dụng lâm sàng.

  • Chuyển hóa:

Các chất chuyển hóa chính của paroxetine có tính phân cực, được loại bỏ dễ dàng. Do đó, hầu như không góp phần vào tác dụng trị liệu của paroxetin.

Sư chuyển hóa không làm giảm tác động chọn lọc của paroxetine trên sự thu hồi 5-HT.

  • Thải trừ:

Sự bài tiết qua nước tiểu của paroxetine ở dạng không đổi thường thấp hơn 2% liều, còn của các chất chuyển hóa là khoảng 64% liều. Khoảng 36% liều được bài tiết qua phân trong đó paroxetine dạng không đổi thấp hơn 1% liều. Vì vậy paroxetine bị thải trừ hầu như hoàn toàn bởi sự chuyển hóa.

6. Tác dụng phụ không mong muốn:

Rất thường gặp: Buồn nôn

Thường gặp: Tăng nồng độ cholesterol, giảm thèm ăn, ngủ gà, mất ngủ, ngáp phản xạ, táo bón tiêu chảy, khô miệng, chảy mồ hôi, rối loạn sinh dục, suy nhược, tăng cân.

Hiếm gặp: Giảm natri huyết, phản ứng kích thích quá mức, lo âu, nhịp tim chậm, phản ứng nhạy cảm với ánh sáng.

Ngưng sử dụng thuốc và báo ngay với bác sĩ nếu phản ứng phụ trở nên trầm trọng hoặc có bất kì phản  ứng nào khác xảy ra ngoài các tác dụng phụ kể trên.

7. Chống chỉ định:

_Bệnh nhân quá mẫn với paroxetine hoặc với bất kỳ thành phần nào có trong thuốc.

_Bệnh nhân đang dùng các thuốc ức chế Monoamin Oxidase ( IMAO ).

_Dùng phối hợp với thioridazin hay pimozid.

_Phụ nữ có thai và cho con bú.

8. Thận trọng khi dùng paroxetine trong các trường hợp:

_Bệnh nhân bệnh tim mạch.

_Bệnh nhân mắc bệnh động kinh.

_Co giật.

_Hội chứng serotonin/ hội chứng ác tính do thuốc an thần.

_Người vận hành máy móc, tàu xe nếu khi dùng thuốc có các dấu hiệu như rối loạn thị giác, chóng mặt, buồn ngủ hay có các dấu hiệu lú lẫn không nên lái xe hay vận hành máy móc.

Bệnh viện Lê Văn Thịnh với đội ngũ Y Bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, tận tâm và luôn lấy Người bệnh làm trung tâm cho mọi hoạt động, nếu Người bệnh có vấn đề sức khỏe, hay cần biết thêm thông tin hãy đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh để được tư vấn, thăm khám và điều trị.

Lương Ngọc Khánh Ngân

Tài liệu tham khảo: Theo tờ hướng dẫn từ nhà sản xuất


Picture17-1.png

25 Tháng Ba, 2024 Tin TứcTruyền Thông

NATRIXAM (Amlodipine + Indapamid)

Ảnh minh họa: nguồn Internet.
1. Chỉ định:

Dạng phối hợp được chỉ định thay thế trong điều trị tăng huyết áp cho bệnh nhân đã dùng indapamid và amlodipine riêng rẽ có cùng hàm lượng.

2. Liều dùng:

Uống 1 viên/1 lần/ ngày, nên dùng vào buổi sáng.

Dạng phối hợp liều cố định không phù hợp với điều trị ban đầu. chỉ dùng cho bệnh nhân đã dùng indapamid và amlodipine riêng rẽ có cùng hàm lượng.

3. Chống chỉ định:

Suy thận nặng ( độ thanh thải creatinine dưới 30ml/phút)

Suy gan nặng hoặc bệnh não do gan gây ra.

Nồng độ kali trong máu thấp.

Phụ nữ đang cho con bú.

Tắc nghẽn đường ra của tâm thất trái.

Suy tim có huyết động không ổn định sau nhồi máu cơ tim cấp.

4. Một số cảnh báo và thận trọng khi sử dụng thuốc:
  • Cảnh báo đặc biệt khi sử dụng thuốc:

Bệnh não do gan gây ra: Người suy gan khi sử dụng hoạt chất indapamid làm tăng nguy cơ bệnh não gan, đặc biệt khi có rối loạn điện giải. Người bệnh cần ngay lập tức ngừng sử dụng thuốc nếu tình trạng não gan xảy ra.

Nhạy cảm với ánh sáng: Sử dụng indapamid làm tăng nguy cơ nhạy cảm với ánh sáng. Trong trường hợp cần phải sử dụng thuốc lợi tiểu thì người bệnh cần chủ động bảo vệ những vùng da tiếp xúc với ánh sáng mặt trời.

  • Thận trọng khi dùng:

Cơn tăng huyết áp: Mức độ an toàn và hiệu quả của Amlodipne trên cơn tăng huyết áp chưa được thiết lập.

Rối loạn cân bằng nước – điện giải:

Hạ natri huyết: Cần kiểm tra nồng độ natri huyết trước và trong quá trình sử dụng thuốc, đặc biệt ở đối tượng người cao tuổi hoặc bệnh nhân xơ gan.

Hạ kali huyết nghiêm trọng gây loạn nhịp tim, thậm chí xoắn đỉnh và tử vong. Do đó, người bệnh cần được kiểm tra nồng độ kali máu trong tuần đầu tiên và sau đố xét nghiệm định kỳ trong suốt quá trình điều trị bằng Natrixam, đặc biệt trên các đối tượng người già, suy dinh dưỡng, người uống nhiều thuốc cùng lúc, xơ gan kèm phù và cổ trướng, suy tim, bệnh mạch vành hay có khoảng QT dài trên ECG.

Tăng calci huyết nhẹ và thoáng qua, trường hợp tăng nhiều có thể liên quan đến tình trạng cường cận giáp và cần ngưng Natrixam trước khi xét nghiệm kiểm tra.

Ảnh hưởng đến đường huyết: Bệnh nhân điều trị bằng thuốc cần kiểm soát chặt chẽ nồng độ glucose huyết nếu mắc kèm đái tháo đường, đặc biệt có hạ thấp kali máu.

Suy tim: Hoạt chất Amlodipine trong Natrixam làm tăng nguy cơ xảy ra các biến cố tim mạch, thậm chí tử vong trên bệnh nhân suy tim, đặc biệt suy tim nặng (NYHA độ III, IV) hoặc suy tim sung huyết.

Chức nặng thận: Lợi tiểu chỉ manh lại hiệu quả hoàn toàn khi chức năng thận bình thường hoặc suy thận nhẹ. Cần lưu ý khi mới bắt đầu sử dụng Indapamid có thể làm tăng ure và creatinine máu.

Acid uric: Indapamid là thuốc thể tăng nguy cơ mắc bệnh gout khi nồng độ acid uric máu tăng cao.

Tá dược: Không dùng Natrixam ở người bệnh có vấn đề di truyền không dung nạp galctose, thiếu hụt Lapp lactase, kém hấp thu glucose- galactose.

5. Tác dụng không mong muốn:

Các tác dụng phụ hay gặp của Indapamid và Amlodipine trong thuốc:

Hồi hộp, đánh trống ngực, đỏ bừng mặt;

Rối loạn tiêu hóa, đau bụng, buồn nôn;

Sưng phù mắt cá chân;

Phù, mệt mòi;

Ban sần ngoài da;

Hạ kali huyết.

6. Tương tác với các thuốc khác và các dạng tương tác khác:

Tương tác liên quan tới Indapamid

  • Phối hợp không khuyến cáo khi điều trị bằng Natrixam:

Lithi: Indapamid làm tăng nồng độ và độc tính của lithi. Bệnh nhân nếu bắt buộc điều trị bằng thuốc lợi tiểu cần phải được kiểm soát chặt chẽ nồng độ lithi máu và điều chỉnh liều phù hợp.

  • Phối hợp cần thận trọng của Indapamid:

Các thuốc gây hiện tượng xoắn đỉnh như thuốc chống loạn nhịp nhóm Ia, nhóm III ( như amiodaron, sotalol, dofetilide, ibutilide), một số thuốc chống loạn thần ( Chlorpromazine, Levomepromazin), nhóm benzamid ( amisulpride, sluprirde,…), nhóm butyrophenon ( như droperidol, haloperidol) và một số thuốc khác như Bepridil, Erythromycin đường tĩnh mạch, Mizolastine, Moxifloxacin, Vincamin đường tĩnh mạch,….;

Thuốc chống viêm không steroid bao gồm các thuốc ức chế chọn lọc COX-2 hay acid salicylic liều cao ( 2-3g/ ngày) nếu dùng phối hợp sẽ làm giảm tác dụng hạ áp của Indapamid, bên cạnh tăng nguy cơ suy thận cấp ( khi mất nước );

Thuốc ức chế men chuyển: Khi kết hợp với Natrixam làm tăng nguy cơ hạ đột ngột và suy thận cấp. Người bệnh tăng huyết áp cần nhưng thuốc lợi tiểu ít nhất 3 ngày trước khi khởi trị bằng ức chế men chuyển ở liều thấp trước khi tăng liều dần dần;

Cần thận trọng khi kết hợp Natrixam với các thuốc có thể làm hạ kali máu như Amphotericin B ( tĩnh mạch), Corticoid ( đường toàn thân), thuốc nhuận tràng kích thích hay các digitalis. Khi kết hợp cần theo dõi nồng độ kali huyết, điện tâm đồ, tiến hành điều chỉnh liều khi cần thiết;

Baclofen: Tăng hiệu quả hạ huyết áp của thuốc.

Allopurinol: Điều trị đồng thời với Natrixam có thể dẫn đến tăng nguy cơ phản ứng mẫn cảm.

  • Một số phối hợp cần cân nhắc của Indapamid:

Thuốc lợi tiểu giữ kali: Có thể làm tăng hoặc giảm kali máu, do đó cần kiểm soát chặt chẽ kali huyết, điện tâm đồ và cân nhắc phối hợp thuốc này.

Metformin: Kết hợp với thuốc lợi tiểu làm tăng nguy cơ nhiễm acid lactic do khả năng gây suy thận chức năng liên quan đến lợi tiểu và đặc biệt với thuốc lợi tiểu quai.

Thuốc cản quang chứa iod: Dùng chung các thuốc lợi tiểu làm tăng nguy cơ suy thận cấp, do đó cần lưu ý bù đủ nước trước khi sử dụng các thuốc cản quang chứa iod.

Các thuốc chống trầm cảm, thuốc an thần làm tăng tác dụng hạ huyết áp và nguy cơ hạ huyết áp thế đứng.

Muối calci: Dùng phối hợp sẽ làm tăng nguy cơ tăng canxi huyết do giảm bài tiết qua nước tiểu.

Thuốc nhóm corticosteroid, tetracosactide ( đường toàn thân): Làm giảm tác dụng hạ huyết áp của thuốc.

Tương tác liên quan đến amlodipine:

Dantrolen ( dạng truyền): Tăng nguy cơ tăng kali máu khi kết hợp dantrolen với verapamil. Tránh dùng đồng thời với thuốc chẹn kênh calci trên bệnh nhân tăng thân nhiệt ác tính và trong điều trị tăng thân nhiệt ác tính.

Các thuốc ức chế CYP3A4 ( thuốc ức chế protease, kháng nấm dẫn chất azol, erythromycin, verapamil hoặc diltiazem) kết hợp với Natrixam có thể làm tăng nồng độ amlodipine trong máu và biểu hiện rõ hơn ở người cao tuổi.

Các thuốc cảm ứng CYP3A4 khi dùng đồng thời với Natrixam sẽ làm giảm nồng độ amlodipine trong máu.

Thuốc hạ huyết áp khác: Tác dụng cộng hưởng tăng nguy cơ hạ huyết áp quá mức.

Simvastatin: Sử dụng đồng thời làm tăng nồng độ Simvastatin trong máu. Liều tối đa khi dùng kết hợp là 20mg/ngày.

Thuốc Natrixam được chỉ định sử dụng thay thế cho bệnh nhân tăng huyết áp trước đó đã sử dụng riêng lẻ Indaqpamid và Amlodipin cùng hàm lượng. Để đảm bảo hiệu quả điều trị và tránh được các tác dụng phụ không mong muốn, người bệnh cần dùng thuốc theo đơn hoặc nhờ sự tư vấn của bác sĩ, dược sĩ chuyên môn.

Bệnh viện Lê Văn Thịnh với đội ngũ Y Bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, tận tâm và luôn lấy Người bệnh làm trung tâm cho mọi hoạt động, nếu Người bệnh có vấn đề sức khỏe, hay cần biết thêm thông tin hãy đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh để được tư vấn, thăm khám và điều trị.

Lương Ngọc Khánh Ngân

Tài liệu tham khảo: Theo tờ hướng dẫn từ nhà sản xuất


Picture18-1.png

25 Tháng Ba, 2024 Tin TứcTruyền Thông
1. Chỉ định:

Rối loạn tiết dịch phế quản, nhất là trong viêm phế quản cấp tính, đợt cấp tính của viêm phế quản mạn tính.

Bromhexin thường được dùng như một chất bổ trợ với kháng sinh, khi bị nhiễm khuẩn nặng đường hô hấp.

Ảnh minh họa: nguồn Internet.
2. Liều dùng:

Người lớn và trẻ em trên 10 tuổi: 8 – 16mg/ lần, ngày uống 3 lần.

Thời gian điều trị không được kéo dài quá 8 – 10 ngày nếu chưa có ý kiến thầy thuốc.

3. Chống chỉ định:

Quá mẫn cảm với bromhexin hoặc với một thành phần nào đó có trong thuốc.

Người mang thai hoặc cho con bú.

4. Dược lực học:

Bromhexin là chất điều hòa và tiêu nhầy đường hô hấp. Do hoạt hóa sự tổng hợp sialomucine và phá vỡ các sợi mucopolysaccharide acid nên thuốc làm đờm lỏng hơn và ít quánh hơn. Thuốc làm long đờm dễ dàng hơn, nên làm đờm từ phế quản thoát ra ngoài hiệu quả.

Khi uống, thường phải sau 2-3 ngày mới có biểu hiện tác dụng trên lâm sàng.

5. Dược động học:

Hấp thu nhanh qua đường tiêu hóa.

Chuyển hóa bước đầu ở gan rất mạnh. Thức ăn làm tăng sinh khả dụng của thuốc.

Bromhexin phân bố rộng rãi vào các mô của cơ thể, liên kết mạnh với protein huyết tương, qua được hàng rào máu não, và một lượng nhỏ qua được nhau thai.

Khoảng 85 -90% liều dùng được thải trừ qua nước tiểu, chủ yếu là dưới dạng các chuyển hóa.

6. Cảnh báo và thận trọng khi sử dụng:

Cần tránh phối hợp với các thuốc ho khác vì có nguy cơ ứ đọng đờm ở đường hô hấp.

Bromhexin do tác dụng làm tiêu dịch nhầy, nên có thể gây hủy hoại hàng rào niêm mạc dạ dày; vì vậy, khi dùng cho bệnh nhân có tiền sử loét dạ dày phải rất thận trọng.

Thận trọng khi dùng cho bệnh nhân hen vì bromhexin có thể gây co thắt phế quản ở một số người dễ mẫn cảm.

Sự thanh thải bromhexin và các chất chuyển hóa có thể bị giảm ở bệnh nhân bị suy gan hoặc suy thận nặng, nên cần thận trọng và theo dõi.

Dùng bromhexin cho người cao tuổi hoặc suy nhược, quá yếu không có khả năng khạc đờm có hiệu quả do đó càng tăng ứ đờm.

Bệnh nhân có vấn đề di truyền hiếm gặp về việc không dung nạp galactose, thiếu hụt men LAPP lactase hoặc kém hấp thu glucose – galactose không nên dùng thuốc này.

7. Tương tác thuốc:

Không phối hợp với thuốc giảm tiết dịch như các thuốc kiểu atropine ( hoặc anticholinergic) vì làm giảm tác dụng của bromhexin.

Không phối hợp với các thuốc chống ho.

Dùng phối hợp bromhexin với kháng sinh ( amoxcilin, cefuroxime, erythromycin, doxycylin) làm tăng nồng độ kháng sinh vào mô phổi và phế quản. Do đó, bromhexin có thể có tác dụng như một thuốc bổ trợ trong điều trị nhiễm khuẩn hô hấp, làm tăng tác dụng của kháng sinh.

Bệnh viện Lê Văn Thịnh với đội ngũ Y Bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, tận tâm và luôn lấy Người bệnh làm trung tâm cho mọi hoạt động, nếu Người bệnh có vấn đề sức khỏe, hay cần biết thêm thông tin hãy đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh để được tư vấn, thăm khám và điều trị.

Lương Ngọc Khánh Ngân

Tài liệu tham khảo: Theo tờ hướng dẫn từ nhà sản xuất


TR6-6.jpg

Ai cũng vậy, ở nơi xa xôi, người cùng quê gặp nhau, hỏi han nhau bằng những câu phương ngữ quen thuộc, được động viên, chia sẻ, giúp đỡ nhau trong lúc gian nan… mới thật sự thấm thía hai tiếng “đồng hương”.

“Nhà ăn hạnh phúc”

Ðồng hồ chưa điểm 11 giờ, hàng dài người đã thẳng tắp trước “Nhà ăn hạnh phúc” của Bệnh viện Lê Văn Thịnh (TP Thủ Ðức, TP Hồ Chí Minh). Chỉ chốc lát, các bàn ăn kín khách.
Nhanh tay lấy thức ăn phục vụ các vị khách, chị Trầm Thị Hồng Ðang, tình nguyện viên Nhóm Thiện nguyện Nhất Tâm (đơn vị phối hợp triển khai “Nhà ăn hạnh phúc” tại bệnh viện), chia sẻ: “Mỗi suất ăn trao đi, chúng tôi nhận được là sự ấm lòng và hạnh phúc. Nhiều lúc chứng kiến hoàn cảnh khó khăn đến mức họ phải chắt chiu từng đồng một; có cả những cảnh đời ở tận Cà Mau, Bạc Liêu lên đây làm thuê, chẳng may bệnh nặng phải điều trị dài ngày, mới thấy những suất cơm trưa ở đây đáng quý nhường nào”. Ðó cũng chính là động lực để chị Ðang gắn bó với nhà ăn suốt gần 3 năm qua”.
Chị Trầm Thị Hồng Ðang (bìa trái) cùng tình nguyện viên Nhóm Thiện nguyện Nhất Tâm chu đáo chuẩn bị những suất ăn nghĩa tình.
Có lẽ vui và hạnh phúc nhất trong những người đến với nhà ăn là bà Lâm Thị Hậu (có người nhà đang điều trị tại bệnh viện). Bà vui vẻ: “Bác sĩ giám đốc của bệnh viện này là đồng hương Cà Mau với tôi. Ở đây cũng có nhiều bác sĩ người Cà Mau lắm, ai cũng ân cần, nhiệt tình!”.
Anh Nguyễn Thanh Sương, nhân viên Bệnh viện Lê Văn Thịnh, cũng quê Cà Mau, chia sẻ, vị bác sĩ mà bà Hậu nhắc chính là Thầy thuốc Ưu tú, Bác sĩ CKII Trần Văn Khanh. Ông quê huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, chính ông là người khởi xướng xây “Nhà ăn hạnh phúc” tại bệnh viện trong lúc đại dịch Covid-19 đang bùng phát dữ dội (tháng 5/2021).
“Thời điểm đó, người bệnh, thân nhân, kể cả nhân viên, y, bác sĩ, và còn có rất nhiều người lao động kẹt lại đây, trong đó có nhiều đồng hương mình phải chật vật, lo toan từng bữa ăn, nên “Nhà ăn hạnh phúc” ra đời. Hạnh phúc đơn giản chính bởi sự đồng lòng ủng hộ của tập thể bệnh viện; đặc biệt là có các đơn vị, các mạnh thường quân đứng ra hỗ trợ, có nhiều đơn vị nhận hỗ trợ lâu dài nhằm duy trì sự bền vững của nhà ăn. Tất thảy chúng tôi đã quen thuộc với “Nhà ăn hạnh phúc” vào 11 giờ mỗi buổi trưa. Mỗi suất ăn tuy không lớn về giá trị vật chất nhưng lớn về giá trị nhân văn, lan toả năng lượng tích cực. Bởi, mọi người không chỉ no bụng mà còn ấm lòng và còn nhận được thật nhiều tình yêu thương, những nụ cười trìu mến trong bữa cơm quây quần… Tất cả dệt nên câu chuyện đầy ắp tình người”, Bác sĩ CKII Trần Văn Khanh trải lòng.
Mỗi suất ăn chan chứa yêu thương chia sẻ cùng người bệnh, thân nhân người bệnh, người lao động, đội ngũ cán bộ nhân viên y tế vơi đi khó khăn
“Tôi thấy thật hạnh phúc, không chỉ vì những bữa cơm, mà xúc động khi thấm thía hai tiếng “đồng hương” nằm trong những nghĩa cử cao đẹp. Khi nghe, khi biết đồng hương cần giúp đỡ thì sẵn sàng giúp như người thân của mình vậy”, anh Sương tâm tình.
Ðơn cử như câu chuyện của chính gia đình anh. Anh Sương kể, anh trai anh, là anh Nguyễn Văn Vũ (quê xã Biển Bạch, huyện Thới Bình), sau 12 năm chiến đấu với các di chứng do tai nạn giao thông bị chấn thương sọ não, cần phẫu thuật khẩn cấp để lắp hộp sọ não nhân tạo nhưng gia cảnh quá khó khăn. Hay tin, Ban Liên lạc Ðồng hương Bạc Liêu – Cà Mau tại TP Hồ Chí Minh (Ban Liên lạc), trong đó có Bác sĩ Khanh, vừa với vai trò là Giám đốc Bệnh viện, vừa là Phó trưởng ban Liên lạc và là Chủ tịch Câu lạc bộ (CLB) Thầy thuốc đồng hương của Ban Liên lạc, cùng ra sức vận động, hỗ trợ điều trị cho anh Vũ tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh.
“Ca mổ ghép sọ nhân tạo của anh tôi diễn ra thành công hồi cuối tháng 12/2022, với chi phí phẫu thuật khoảng 40 triệu đồng; bệnh viện hỗ trợ chi phí mời chuyên gia và công mổ. Hiện anh tôi khoẻ mạnh, sinh hoạt bình thường. Tôi rất biết ơn những tấm lòng vàng, trong đó có rất nhiều đồng hương đã trợ giúp trong lúc nguy khó. Còn nhớ ở thời điểm đó, những bữa trưa ở “Nhà ăn hạnh phúc” đã giúp cho anh và người nhà. Hạnh phúc không tả nổi”, anh Sương trải lòng.
Nhận thêm một phần cơm cho vợ đang điều trị tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh, ông Ðỗ Minh Khiêm, (bìa phải, 70 tuổi, quê Nam Ðịnh, sống tại TP Thủ Ðức) bộc bạch: “Những bữa trưa ngon giúp tôi tiết kiệm nhiều chi phí, vì vợ chồng tôi tuổi già cứ phải nằm viện suốt. Riết từ lạ thành quen, bữa trưa quây quần ấm lòng”.
Ðau đáu vì quê hương ruột thịt
Ai đó nói rằng: “Con người ta có rất nhiều nơi để đến, nhưng chỉ có một chốn để quay về”. Dù ở đâu, làm gì, thành công đến đâu thì những người con Cà Mau vẫn luôn đau đáu hướng về quê hương. Thực tế đã qua, tình đồng hương đã góp sức mạnh cùng nhau vượt qua đại dịch Covid-19, nhiều cơn bão lũ; đã có hàng trăm cây cầu, ngôi nhà đồng hương, cùng rất nhiều chương trình an sinh xã hội giúp đỡ quê nhà trong lúc khốn khó. Ở thời điểm hiện tại, họ lại đau đáu, xót xa trước hiểm hoạ sạt lở, sụt lún do hạn hán tại quê nhà… Chắc chắn họ luôn sẵn sàng đóng góp vào những nỗ lực của tỉnh, chia sẻ vì cộng đồng.
Còn ngay tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh, qua lời chia sẻ của Trưởng phòng Công tác xã hội Trần Quang Châu, đã có rất nhiều trường hợp mắc bệnh hiểm nghèo, hoàn cảnh khó khăn ở Cà Mau đã được Bệnh viện Lê Văn Thịnh và nhiều bệnh viện trên địa bàn TP Hồ Chí Minh chữa trị kịp thời, góp phần giảm đáng kể chi phí cho gia đình bệnh nhân, thông qua sự kết nối của những tấm lòng đồng hương, mà vai trò lớn là CLB Thầy thuốc đồng hương của Ban Liên lạc.
Bác sĩ Trần Văn Khanh bày tỏ: “CLB sẽ tiếp tục tích cực hỗ trợ nhiều hơn nữa cho bà con đồng hương Cà Mau và Bạc Liêu khám chữa bệnh tại TP Hồ Chí Minh; đồng thời, tổ chức nhiều hoạt động, chương trình mổ mắt, khám bệnh, phát thuốc miễn phí giúp bà con quê mình sáng mắt, khoẻ mạnh”.
Đoàn y, bác sĩ Bệnh viện Lê Văn Thịnh và Bệnh viện Mắt Tây Nam (TP.HCM) phối hợp cùng Ban Liên lạc đồng hương Bạc Liêu – Cà Mau tại TP.HCM mổ phaco miễn phí cho hơn 250 người dân huyện Đầm Dơi, ngày 18/11/2023 (Trong năm 2023, hai bệnh viện đã phối hợp thực hiện, đem lại ánh sáng cho gần 2.000 người dân Cà Mau, tổng kinh phí gần 2 tỷ đồng).
Ở mảnh đất Sài Gòn hoa lệ, những người lạ dần thành quen khi có những cuộc hạnh ngộ với bao cung bậc cảm xúc khác nhau bởi sự kết nối cội nguồn. Ðể rồi sau lời thăm hỏi, chia sẻ chuyện cấp thiết cần được hỗ trợ, thì những địa chỉ được giới thiệu, những sự giúp đỡ, sự kết nối giúp nhau nghĩa tình… được thực hiện. Chỉ mong rằng, những người đang khốn khó, mong chờ sự giúp đỡ sẽ luôn có được tình đồng hương sưởi ấm… dù đó chỉ là một bữa trưa ấm nóng như ở “Nhà ăn hạnh phúc” của Bệnh viện Lê Văn Thịnh thì đã hạnh phúc vô ngần!

Thực hiện: Băng Thanh

Nguồn: baocamau.vn


Thông Tin Liên Hệ

BỆNH VIỆN LÊ VĂN THỊNH
Địa chỉ: 130 Lê Văn Thịnh, phường Bình Trưng, thành phố Hồ Chí Minh
Điện thoại: 1900633878
Email: bvlvthinh.tpthuduc@tphcm.gov.vn
Thời gian làm việc:
- Trong giờ: 06:00 - 16:30
- Ngoài giờ: 16:30 - 19:00
Cấp cứu: 24/7

Bản Quyền © 2021 Bệnh Viện Lê Văn Thịnh - Thiết Kế và Phát Triển bởi Hân Gia Group