bs.duc_.jpg

18 Tháng Một, 2023 Tin TứcTruyền Thông

(Thanhuytphcm.vn) – Theo Tổ chức Y tế thế giới, biến thể XBB được ghi nhận trên thế giới từ tháng 10/2022 và đến nay biến thể này đã lây lan hơn 70 quốc gia. Hiện biến thể này đã xuất hiện tại Tây Ninh và TPHCM.

Tết Nguyên đán Quý Mão 2023 đang đến gần, thời điểm mà nhu cầu giao thương, đi lại tăng cao, thời tiết cũng bước vào giai đoạn chuyển mùa. Đây là điều kiện thuận lợi cho các dịch bệnh truyền nhiễm lây lan. Theo đó, ngành Y tế TPHCM, trong đó có Bệnh viện Lê Văn Thịnh, TP Thủ Đức đã có những phương án phòng chống dịch, sẵn sàng ứng phó khi tình hình dịch có diễn tiến xấu.


TTLao-1200x800.jpg

12 Tháng Một, 2023 Tin Tức

– Phóng viên Dân trí theo chân đoàn y bác sĩ Việt Nam vượt đường xa đến khám bệnh ở nước bạn Lào để ghi nhận những khoảnh khắc đáng nhớ, xúc động trên hành trình nghĩa tình, trong thời điểm Tết đến, xuân về… 

Những ngày cuối tháng 12/2022, chuyến xe lăn bánh từ TPHCM đưa đoàn y bác sĩ Bệnh viện Lê Văn Thịnh (TP Thủ Đức) đến khám chữa bệnh miễn phí tại nước bạn Lào. Sau khoảng 3 năm đại dịch Covid-19 hoành hành, đây được xem là lần đầu tiên, chuyến xe nghĩa tình được nối lại.

Hơn nửa ngày di chuyển, chuyến xe đưa gần 40 người vượt đường xa khoảng 800km, xuyên biên giới qua các cửa khẩu ở Bình Phước (Việt Nam), Campuchia mới đến Lào. Quên đi sự mệt mỏi, trông ai cũng háo hức bởi nhiều người lần đầu đặt chân tới xứ sở triệu voi. Quan trọng hơn, chuyến “xuất ngoại” có ý nghĩa hỗ trợ y tế, chăm sóc sức khỏe cho người dân địa phương…

Hành trình nghĩa tình

Từ sáng sớm, đoàn y bác sĩ có mặt tại Trung tâm Y tế huyện Thà Tèng, tỉnh Sekong, nơi có mật độ dân số thấp, cuộc sống người dân còn rất nhiều khó khăn. Trong và sau đại dịch Covid-19, sự khó khăn trở nên chồng chất về nhiều mặt, trong đó có y tế, sức khỏe.

Chuyến khám chữa bệnh miễn phí của đoàn bác sĩ Việt Nam được phía nước bạn Lào vui mừng chào đón.

Biết đoàn thiện nguyện Việt Nam sang hỗ trợ, hàng trăm người dân, phần lớn là người già và trẻ em, chia thành nhiều nhóm đứng nối dài trước khu vực khám bệnh. Có người di chuyển bằng chiếc “tuk tuk” (xe máy kéo cabin chở khách – phương tiện khá phổ biến ở Lào), có người ôm con ngồi xe công nông dính đầy bụi đất chờ đợi… Họ hớn hở chào đón sự xuất hiện của những người bạn phương xa.

Ông Sompong Duanghorm, Phó Giám đốc Sở Y tế tỉnh Sekong trải lòng, đại dịch Covid-19 đã làm công tác đào tạo y bác sĩ địa phương bị gián đoạn. Gần 3 năm xảy ra dịch bệnh, tỉnh rơi vào tình trạng thiếu thốn trang thiết bị y tế. Nhiều năm qua, Sekong luôn phải đối phó với các dịch bệnh truyền nhiễm như sốt rét, sốt xuất huyết, bệnh theo mùa, kể cả bệnh tim mạch.

“Các bệnh xuất hiện liên tục, nhanh, khiến chúng tôi không thể theo kịp. Chúng tôi đã cố gắng hợp tác với y tế Việt Nam để cải thiện nhưng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người dân vẫn cần rất nhiều. Do đó, hoạt động khám chữa bệnh lần này của các bạn thật sự rất ý nghĩa”, ông Sompong Duanghorm chia sẻ.

Ông Korlakanh Boudsaba, Trưởng Phòng Y tế huyện Thà Tèng tiếp lời, dân số khu vực này hơn 40.000 người. Nơi đây có 118 bản, nằm rải rác nhiều địa điểm, di chuyển khó khăn. Dù mỗi bản có đặt trạm y tế nhưng số lượng nhân viên y tế ít, người có chuyên môn giỏi lại càng ít.

“Sau đại dịch Covid-19, tình hình còn khó khăn hơn. Cán bộ y tế trình độ bậc đại học của trung tâm y tế chúng tôi chỉ có 2-3 người, còn lại chủ yếu là cao đẳng, trung cấp và nhân viên phụ giúp việc.

Ngành y tế huyện đưa ra 3 giải pháp. Thứ nhất là thực hiện các chỉ đạo của lãnh đạo huyện; thứ hai là thực hiện những chương trình do các tổ chức đoàn thể, đoàn thanh niên xây dựng; thứ ba là tiếp thu các đóng góp, ý kiến từ người dân. Huyện đã phối hợp nhiều đơn vị nâng cao nâng lực chăm sóc sức khỏe nhưng vẫn không xuể…”, ông Boudsaba nhìn nhận.

Nhớ thương đất Việt

Hiểu sự mong mỏi của người dân nước bạn trong chuyến đi, các y bác sĩ TPHCM cố gắng bắt tay vào việc nhanh nhất. 8h, công tác chuẩn bị, khám chữa bệnh bắt đầu.

Khi trực tiếp đối diện khám bệnh cho người dân, đoàn thiện nguyện mới hiểu vì sao lãnh đạo ngành y tế địa phương tâm tư đến vậy.

Ông Thonkham (70 tuổi, công an viên đã về hưu) lê từng bước nặng nhọc chờ đến lượt đo huyết áp, khám sức khỏe. Ông cho biết, 6 năm qua đã bị những cơn đau nhức xương khớp hành hạ khắp người, đi nhiều nơi điều trị nhưng bệnh cứ tái diễn mỗi khi trái gió trở trời. Nghe đoàn y bác sĩ Việt Nam đến, ông chờ đợi mấy ngày qua.

Bà Khenkhap (86 tuổi, nông dân), được con cháu dìu đến Trung tâm y tế huyện trong tình trạng đau nhức cơ thể nhiều năm. Không những vậy, bà còn bị chứng đau bao tử hành hạ, khiến việc ăn uống gặp rất nhiều khó khăn. Bà xem việc được khám chữa bệnh là cơ hội cải thiện sức khỏe ở tuổi xế chiều…

Sau khi khám, bệnh nhân và gia đình các bệnh nhân được đoàn công tác phát một túi thuốc lớn, hướng dẫn tỉ mỉ cách sử dụng, cách chăm sóc sức khỏe tốt nhất cho bản thân; kèm theo phần nhu yếu phẩm như dầu ăn, nước mắm, mì gói…

Chứng kiến đoàn y bác sĩ Việt Nam hỗ trợ tận tình, những nhân viên y tế Lào xúc động. “Ở đây, người dân muốn phẫu thuật phải lên bệnh viện tỉnh”, Nokky Souliyaphan (25 tuổi) đang hướng dẫn bệnh nhân đo điện tim, chia sẻ. Cô là một trong 3 trường hợp có bằng đại học (học tại Việt Nam) làm việc tại Trung tâm Y tế huyện Thà Tèng.

Nhắc lại chuyện xưa, Nokky luôn nhớ về Việt Nam. Nữ nhân viên y tế kể lại, hơn 6 năm trước, cô thi đậu chuyên ngành Xét nghiệm của Đại học Quảng Nam. Nhiều năm xa nhà, ấn tượng của cô là sự hiếu khách, hỗ trợ hết mình của sinh viên, thầy cô và những người bạn. Lúc sắp ra trường, Nokky từng nhen nhóm suy nghĩ sẽ ở lại Việt Nam nhưng rồi cô quyết định trở về quê hương, dù mọi thứ khó khăn.

“Mỗi ngày, trung tâm sẽ làm xét nghiệm cho khoảng 50 người. Tuy thu nhập còn thấp nhưng tôi được ở gần gia đình, được chăm sóc cho người dân quê hương mình. Cuộc sống sau dịch có phần khó khăn hơn…”, nữ cử nhân chia sẻ.

Nhân viên y tế Nokky Souliyaphan vui mừng vì người dân quê hương được bác sĩ Việt Nam hỗ trợ chăm sóc sức khỏe tận tình.

Có mặt trong buổi khám còn có Souksavanh Seelaphet (27 tuổi), học Y sĩ đa khoa tại trường Cao đẳng Y tế Hà Tĩnh. Nhớ lại thời sinh viên, cô cho biết, ngoài 2 năm học chuyên môn, cô phải mất một năm học tiếng Việt để thuận lợi giao tiếp. Sau khi tốt nghiệp, Souksavanh cũng chọn về huyện Thà Tèng làm việc, phụ trách phòng khám nhi.

Sau 5 năm chưa trở lại Việt Nam, khi thấy các y bác sĩ thiện nguyện ghé thăm quê hương, Souksavanh có cảm giác như gặp lại những người bạn cũ thân thương. “Tôi rất thích cháo gà, bánh ướt, hủ tiếu ở Việt Nam và rất thèm được đi du lịch Đà Nẵng…”, Souksavanh cười nói khi nhớ về Việt Nam.

Hẹn ngày trở lại…

Theo thống kê trong một ngày, hơn 1.100 trường hợp đã được đội ngũ y bác sĩ Việt Nam tận tình khám, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe. Nhiều bệnh nhân địa phương không nói được tiếng Việt, họ cười hiền, biểu đạt những lời cảm ơn qua ánh mắt và cử chỉ.

Bác sĩ Trần Quý Phương Thùy, Trưởng khoa Nội tổng hợp Bệnh viện Lê Văn Thịnh, là một trong những trường hợp đầu tiên “hành nghề” xuyên biên giới. Cô tâm sự, ban đầu cũng khá mệt do di chuyển nhiều thời gian nhưng bản thân cảm thấy vui vì chuyến đi mang nhiều ý nghĩa khi hỗ trợ, giúp đỡ cho nhiều bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn.

Bác sĩ Thùy nhớ nhất là trường hợp của nữ bệnh nhân 30 tuổi, đến cầu cứu trong tình trạng lở loét nặng. Nói qua thông dịch viên, bệnh nhân cho biết đã lên bệnh viện tỉnh điều trị vài lần nhưng không khỏi, cơ thể cứ đau, ngứa ngày càng nặng. Cách đây không lâu, hai con nhỏ của chị cũng lâm cảnh tương tự.

“Gia đình chị mong muốn được chữa khỏi bệnh. Qua thăm khám, tôi phát hiện 3 mẹ con bị viêm da cơ địa, vì để lâu và không chăm sóc đúng cách nên đã biến chứng nặng. Tôi kê toa thuốc nhưng ra các tiệm thuốc gần đây tìm đều không có bán, dù là những loại thuốc cơ bản. Nếu có cơ hội, tôi muốn được quay trở lại, mang đầy đủ thuốc để giúp đỡ người dân nơi đây”, bác sĩ Thùy chia sẻ.

Ngồi trên xe về lại trung tâm tỉnh Sekong, bác sĩ Từ Kim Thanh, Trưởng khoa Thận Nội tiết, nhớ lại trường hợp của một phụ nữ 50 tuổi, được gia đình đẩy đến trong tình trạng vùng dưới chân bị biến dạng, bốc mùi hôi thối và sức khỏe suy kiệt. Kiểm tra, xem xét tất cả các triệu chứng, bác sĩ Thanh phát hiện bệnh nhân bị đái tháo đường đã lâu nhưng không kiểm soát tốt, khiến chân bị lở loét, nhiễm trùng nặng.

“Bệnh nhân cần được nằm điều trị nội khoa, kiểm tra xem có hẹp mạch máu. Khả năng bà ấy sẽ phải cắt bỏ bàn chân vì tình trạng hoại tử quá nặng. Chúng tôi chỉ biết khuyên lên tuyến trên gấp để cấp cứu, vì nơi đây không đủ khả năng điều trị, nếu để lâu có thể nguy hiểm tính mạng”, bác sĩ Thanh nói.

Nữ bác sĩ Thanh trăn trở mãi khi chứng kiến một ca bệnh mà “cái chết được báo trước”. Đó là cụ bà hơn 70 tuổi, con trai đưa đến trong tình trạng bụng chướng, vàng da. Bà được siêu âm kiểm tra, kết quả cho thấy một khối u gan đa ổ kích thước rất lớn.

“Bệnh nhân đã bị tắc ứ đường mật, biến chứng ung thư gan di căn, thời gian sống có lẽ chỉ còn vài tháng. Điều đáng nói là khi đến với chúng tôi, dù đã có triệu chứng kéo dài, bệnh nhân cũng không mường tượng được mình bị bệnh nặng, mà chỉ nghĩ bị mệt mỏi, ăn uống kém…”, nữ bác sĩ chia sẻ.

Trên đường trở về TPHCM sau nhiều ngày làm thiện nguyện, các bác sĩ trải lòng, dù chưa thể tận tay điều trị lâu dài, hiệu quả cho người dân địa phương nhưng ít nhất qua chuyến đi, tất cả gửi gắm cho nhau về sự cần thiết của phát triển y tế tuyến cơ sở và vấn đề chăm sóc sức khỏe luôn được quan tâm hàng đầu.

Chuyến thiện nguyện lần này của đoàn y bác sĩ Việt Nam ngoài tinh thần hợp tác, hỗ trợ trong lĩnh vực y tế còn phát huy tình đoàn kết, tương thân tương ái, giao lưu học hỏi giữa hai nước…

Bác sĩ Việt vượt 800km xuyên biên giới khám bệnh cho người dân Lào - 16

Nguồn: dantri.com.vn


20383c7b10ecc8b291fd-1200x939.jpg

6 Tháng Một, 2023 Tin Tức
– Sáng 5/1/2023, Bệnh viện Lê Văn Thịnh và Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt tổ chức lễ ký kết thỏa thuận hợp tác bảo lãnh viện phí. Tham dự chương trình có: BS.CKII Trần Văn Khanh, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ TP Thủ Đức, Giám đốc Bệnh viện Lê Văn Thịnh; ông Đỗ Hoàng Phương, Phó tổng Giám đốc Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt; bà Nguyễn Thị Triệu Giang, Giám đốc Ban Giải quyết quyền lợi bảo hiểm – Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt cùng lãnh đạo các khoa, phòng ban hai đơn vị.
Đại diện hai đơn vị thực hiện nghi thức ký kết thỏa thuận hợp tác bảo lãnh viện phí.

Phát biểu tại buổi lễ, BS.CKII Trần Văn Khanh, Giám đốc Bệnh viện Lê Văn Thịnh bày tỏ sự trân trọng và tin tưởng đối với Bảo hiểm Bảo Việt. Việc ký kết hợp tác với Bảo hiểm Bảo Việt là một trong những nỗ lực của Bệnh viện Lê Văn Thịnh nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, tạo điều kiện thuận lợi cho người bệnh khi đến khám và điều trị tại đây.

Cùng trên tinh thần mang đến quyền lợi tối ưu cho người bệnh khi đến thăm khám tại bệnh viện, ông Đỗ Hoàng Phương, Phó tổng Giám đốc Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt cho biết, hai bên sẽ cùng nhau đưa ra những giải pháp đảm bảo tài chính, giúp bệnh nhân được trải nghiệm những dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe một cách tốt nhất. Theo đó, Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt sẽ thanh toán trực tiếp các chi phí y tế phát sinh khi khách hàng của Công ty sử dụng dịch vụ y tế, sức khỏe tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh và đã được Tổng Công ty xác nhận đồng ý thanh toán thông qua thư xác nhận bảo lãnh.

Theo nội dung của bản ký kết, phạm vi của dịch vụ được bảo lãnh là các chi phí thanh toán trực tiếp dịch vụ y tế ngoại trú và nội trú, bao gồm: khám, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, vật lý trị liệu, giường bệnh, phẫu thuật, thủ thuật, thuốc, vật tư y tế.

Thanh Nhàn

Nguồn: www.hcmcpv.org.vn


2.jpg

5 Tháng Một, 2023 Tin TứcTruyền Thông

 

CAPTOPRIL_CHỈ ĐỊNH VÀ NHỮNG LƯU Ý KHI SỬ DỤNG

Hoạt chất: Captopril 25mg

  1. Chỉ định:

– Tăng huyết áp.

– Suy tim.

– Sau nhồi máu cơ tim (ở bệnh nhân đã có huyết động ổn định).

  1. Liều dùng:

Liều dùng thay đổi tùy từng trường hợp:

Tăng huyết áp: Liều thường dùng: 25 mg/lần, 2 – 3 lần/ngày. Trường hợp không kiểm soát được huyết áp sau 1–2 tuần, có thể tăng liều tới 50 mg/lần, 2–3 lần/ngày. Không dùng quá 150 mg/ngày, có thể dùng thêm thuốc lợi tiểu thiazid ở liều thấp.

Cơn tăng huyết áp (khi cần giảm huyết áp trong vài giờ): 12,5 mg – 25 mg/lần, các lần cách nhau khoảng 30–60 phút hoặc lâu hơn.

Đối với suy thận: Liều dùng tùy thuộc vào hệ số thanh thải của creatinin:

– eGFR<50 ml/phút/m2, liều ban đầu: 12,5 mg/lần, 3 lần/ngày. Trường hợp chưa đạt tác dụng sau 2 tuần, liều: 25 mg/lần, 3 lần/ngày.

– eGFR<20 ml/phút/m2, liều ban đầu: 6,25 mg/lần, 3 lần/ngày. Trường hợp chưa đạt tác dụng sau 2 tuần, liều: 12,5 mg/lần, 3 lần/ngày.

Đối với suy tim: Liều thường dùng: 6,25 mg – 50 mg/lần, 2 lần/ngày. Khi cần có thể tăng liều lên 50 mg/lần, 2 lần/ngày. Nên dùng phối hợp với thuốc lợi tiểu.

Rối loạn chức năng thất trái sau nhồi máu cơ tim: Có thể bắt đầu dùng captopril sớm 3 ngày sau nhồi máu cơ tim kèm rối loạn chức năng thất trái. Sau khi dùng liều ban đầu: 6,25 mg/ lần x 3 lần, có thể tiếp tục điều trị với liều: 12,5 mg/lần x 3 lần, sau đó tăng lên 25 mg/lần x 3 lần trong vài ngày tiếp theo và nâng lên liều 50 mg/lần x 3 lần trong những tuần tiếp theo nếu dung nạp được thuốc. Captopril có thể kết hợp với các liệu pháp sau nhồi máu cơ tim (thuốc tan huyết khối, aspirin, thuốc chẹn beta).

Bệnh thận do đái tháo đường: 25 mg/lần, 3 lần/ngày. Dùng lâu dài và sử dụng thêm thuốc chống tăng huyết áp nếu chưa đạt được tác dụng mong muốn.

Trẻ em: Liều ban đầu: 0,3 mg/kg thể trọng/ lần, 3 lần/ngày. Liều có thể tăng thêm 0,3 mg/kg, cứ 8 – 24 giờ tăng một lần, đến liều thấp nhất có tác dụng.

  1. Cách dùng:

Uống 1 giờ trước bữa ăn.

  1. Quá liều:

Triệu chứng: Sốt, nhức đầu, hạ huyết áp.

Ngừng dùng Captopril và cho người bệnh vào viện, tiêm adrenalin dưới da, tiêm tĩnh mạch diphenhydramin hydroclorid, tiêm tĩnh mạch hydrocortison.

Truyền tĩnh mạch dung dịch natri clorid 0,9% để duy trì huyết áp. Có thể loại bỏ captoril bằng thẩm tách máu.

  1. Chống chỉ định:

Không sử dụng trong trường hợp sau:

Bệnh nhân mẫn cảm với captopril và các thành phần khác của thuốc.

Có tiền sử phù mạch, sau nhồi máu cơ tim (nếu huyết động không ổn định).

Hẹp động mạch thận 2 bên hoặc hẹp động mạch thận ở thận độc nhất.

Hẹp động mạch chủ hoặc hẹp van 2 lá, bệnh cơ tim tắt nghẽn nặng.

Phụ nữ có thai và cho con bú.

  1. Tác dụng không mong muốn:

Hầu hết các ADR là chóng mặt và ngoại ban (khoảng 2%). Các phản ứng này thường phụ thuộc vào liều dùng và liên quan đến những yếu tố biến chứng như suy thận, bệnh mô liên kết ở mạch  máu.

Thường gặp, ADR >1/100

Toàn thân: Chóng mặt.

Da: Ngoại ban, ngứa.

Hô hấp: Ho.

Ít gặp, 1/100 >ADR >1/1000

Tuần hoàn: Hạ huyết áp nặng.

Tiêu hóa: Thay đổi vị giác, viêm miệng, viêm dạ dày, đau bụng, đau thượng vị.

Hiếm gặp, ADR <1/1000

Toàn thân: Mẫn cảm, mày đay, đau cơ, sốt, tăng bạch cầu ưa eosin, bệnh hạch lympho, sút cân.

Tuần hoàn: Viêm mạch

Nội tiết: To vú đàn ông.

Da: Phù mạch, phồng môi, phồng lưỡi; giọng khàn do phù dây thanh âm, phù chân tay. Ðiều này thường do thiếu từ trước enzym chuyển hóa bổ thể, kết hợp với tăng bradykinin, có thể đe dọa tính mạng. Mẫn cảm ánh sáng, phát ban kiểu pemphigus, hồng ban đa dạng, hội chứng Stevens – Johnson, viêm da tróc vảy.

Gan: Vàng da, viêm tụy.

Hô hấp: Co thắt phế quản, hen nặng lên.

Cơ xương: Ðau cơ, đau khớp.

Thần kinh: Dị cảm.

Tâm thần: Trầm cảm, lú lẫn.

Sinh dục, tiết niệu: Protein niệu, hội chứng thận hư, tăng kali máu, giảm chức năng thận.

Thông báo cho bác sỹ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

  1. Tương tác với các thuốc khác

Sử dụng đồng thời furosemid với captopril gây ra tác dụng hiệp đồng hạ huyết áp.

Các chất kháng viêm không steroid (đặc biệt indomethacin), các chất cường giao cảm làm giảm tác dụng hạ huyết áp của captopril.

Captopril có thể làm tăng trở lại nồng độ lithi huyết thanh và làm tăng độc tính của lithi.

Cyclosporin hoặc các thuốc lợi tiểu giữ kali có thể gây tăng kali huyết khi sử dụng đồng thời với captopril.

  1. Cảnh báo và thận trọng:

Suy giảm chức năng thận. Thẩm tách máu.

Người bệnh mất nước và/hoặc điều trị thuốc lợi tiểu mạnh: Nguy cơ hạ huyết áp nặng.

Tăng nhẹ kali huyết. Thận trọng khi sử dụng kết hợp với các thuốc lợi tiểu giữ kali, muối có chứa kali và phải thường xuyên kiểm tra cân bằng điện giải.

Hạ huyết áp nặng ở bệnh nhân tăng hoạt độ renin mạnh khi sử dụng captopril liều đầu.

Nguy cơ tăng mạnh các phản ứng phản vệ khi làm thẩm phân với màng polyacrilonitril lưu lượng cao và khi rút bớt LDL khỏi máu bằng dextran sulfat và trong khi giải mẫn cảm.

Gây phản ứng dương tính giả khi các xét nghiệm aceton trong nước tiểu.

  1. Tác dụng của thuốc khi lái xe và vận hành máy móc:

Captopril có thể ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy, thường xảy ra khi bắt đầu điều trị hoặc khi thay đổi liều. Vì thế nếu thấy chóng mặt khi dùng thuốc, không nên lái xe và vận hành máy.

  1. Phụ nữ mang thai và cho con bú:

Thời kỳ mang thai: Sử dụng captopril hoặc các chất ức chế ACE khác trong 3 tháng giữa và 3 tháng cuối của thai kỳ có thể dẫn đến thương tổn cho thai nhi và trẻ sơ sinh gồm hạ huyết áp, giảm sản sọ sơ sinh, vô niệu, suy thận hồi phục hoặc không hồi phục và tử vong. Ít nước ối có thể do giảm chức năng thận thai nhi. Chậm phát triển thai, đẻ non và còn ống động mạch đã xảy ra. Vì vậy không bao giờ được dùng captopril trong thời kỳ mang thai.

Thời kỳ cho con bú: Captopril bài tiết vào sữa mẹ, gây nhiều tác dụng có hại cho trẻ bú sữa mẹ, vì vậy không được dùng captopril và các chất ức chế ACE khác đối với người cho con bú.

Bệnh viện Lê Văn Thịnh với đội ngũ Y Bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, tận tâm và luôn lấy Người bệnh làm trung tâm cho mọi hoạt động, nếu Người bệnh có vấn đề về sức khỏe, hay cần biết thêm thông tin hãy đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh để được tư vấn, thăm khám và điều trị.

Ds.Hoàng Thị Thùy Dung

Tài liệu tham khảo: Hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất.


ungthu.png

5 Tháng Một, 2023 Tin TứcTruyền Thông

ANH – Người đàn ông 51 tuổi khỏi ung thư đường mật giai đoạn cuối nhờ loại thuốc thử nghiệm mới.

Đó là trường hợp của Robert Glynn, một thợ hàn sống ở Greater Manchester, vào tháng 08/2020, ông được chẩn đoán ung thư đường mật, còn gọi ống mật, đây là một dạng bệnh hiếm gặp với ít lựa chọn điều trị. Trước đó, ông bị đau dữ dội ở vai và khiến ông mất ngủ nhiều đêm.

Ông Robert Glynn chữa khỏi ung thư di căn sau khi dùng thuốc thử nghiệm. Ảnh: PA

Ông Glynn được thông báo rằng căn bệnh ung thư của ông đã ở giai đoạn nặng và đã lan đến tuyến thượng thận và gan với những khối u quá lớn để có thể phẫu thuật, với tiên lượng chỉ sống được 12 tháng ông được giới thiệu đến Christie, nơi các chuyên gia cho ông cơ hội tham gia thử nghiệm lâm sàng liệu pháp miễn dịch.

Phương pháp điều trị được thực hiện bằng cách nhỏ giọt và giúp hệ thống miễn dịch của một người chống lại ung thư, được kết hợp với hóa trị liệu tiêu chuẩn.

Kết quả cho thấy các khối u của ông Glynn thu nhỏ lại sau quá trình điều trị. Khối u trong gan giảm từ 12 cm xuống 2,6 cm, trong khi khối u tuyến thượng thận giảm từ 7 cm còn 4,1 cm.

Điều này có nghĩa là ông Glynn đã có thể tiến hành phẫu thuật vào tháng 4 để loại bỏ các khối u của mình.Các bác sĩ phẫu thuật chỉ tìm thấy mô chết, điều đó có nghĩa là phương pháp điều trị đã tiêu diệt tất cả các tế bào ung thư.

Kể từ khi được phẫu thuật, ông Glynn không cần điều trị gì nữa và các lần chụp cắt lớp ba tháng một lần cho thấy ông không còn ung thư.

Thử nghiệm lâm sàng được điều hành bởi Giáo sư Juan Valle, chuyên gia tư vấn ung thư tại Christie và là chuyên gia hàng đầu thế giới về ung thư đường mật, ông nói bệnh nhân đáp ứng tốt với thuốc do khối u của bệnh nhân có số lượng đột biến gene cao.

“Hầu hết bệnh nhân với chẩn đoán này không có nhiều đột biến trong tế bào ung thư nên việc điều trị sẽ không hiệu quả, nhưng nó làm nổi bật tầm quan trọng của y học cá nhân hóa”. Giáo sư Juan Valle nói.

Chỉ có khoảng 1.000 người ở Anh được chẩn đoán mắc bệnh này hàng năm và chỉ 5% số người sống được từ 5 năm trở lên sau khi chẩn đoán.

 Dược sĩ

Trần Thị Diễm Trang

(Theo Independent)


20220225_121909_636437_tac-dung-cua-thuoc-.max-1800x1800-1.png

21 Tháng Mười Hai, 2022 Tin TứcTruyền Thông

Lưu ý khi dùng thuốc Nicorandil điều trị đau thắt ngực

  1. Dược lực học:

Nicorandil tác động bằng cách giãn cơ trơn mạch máu, đặc biệt là hệ thống tĩnh mạch. Nicorandil thực hiện việc này qua hai con đường khác nhau; đầu tiên, bằng cách hoạt hóa kênh kali, và sau đó là cung cấp oxyd nitric để hoạt hóa enzym guanylat cyclase. Guanylat cylase làm hoạt hóa GMP dẫn đến giãn cả tĩnh mạch lẫn động mạch. Do tác động chọn lọc trên kênh kali mạch máu, nicorandil không có tác động đáng kể trên sự co thắt và dẫn truyền cơ tim. Mặc dù nicorandil có thể làm giãn mạch vành của một người khỏe mạnh, nhưng ít tác dụng trên mạch vành của một người bị nhồi máu cơ tim vì các mạch máu sẽ sẵn sàng để giãn hoàn toàn. Thay vào đó, nicorandil làm giãn hệ thống tĩnh mạch, làm giảm lượng máu dồn về tim và giảm công việc của tim.

2. Dược động học

Nicorandil hấp thu tốt qua đường tiêu hóa, nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được sau khi uống 30 – 60 phút. Chuyển hóa chủ yếu qua khử nitrat, khoảng 20% liều dùng được thải qua nước tiểu dưới dạng chuyển hóa.Thời gian bán thải khoảng 1 giờ. Tỷ lệ gắn của Nicorandil với protein huyết tương thấp.

3.Chỉ định:

Đau thắt ngực.

  1. Liều dùng và cách dùng:

– Người lớn: khởi đầu dùng 10 mg x 2 lần/ngày, hoặc 5mg x 2 lần/ngày đối với các bệnh nhân dễ bị nhức đầu. Sau đó liều dùng sẽ được điều chỉnh tăng lên dần tùy theo đáp ứng lầm sàng. Liều dùng thông thường là 10 – 20 mg x 2 lần/ngày. Liều dùng tối đa 30 mg x 2 lần/ngày.

– Người cao tuổi: không càn thiết phải giảm liều ở người cao tuổi. Cũng như tất cả các thuốc khác, nên dùng liều thấp có hiệu quả.

– Trẻ em: thuốc không được khuyến nghị dùng cho trẻ em.

  1. Chống chỉ định :

– Bị sốc do tim, suy thất trái, giảm huyết áp.

– Mẫn cảm với nicorandil

– Sử dụng đồng thời với các thuốc ức chế phosphodiesterase 5 ( như sildenafil, tadalafil, vardenafil ).

  1. Các cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng thuốc:
  • Nên tránh sử dụng nicorandil ở các bệnh nhân thiếu thể tích máu, áp huyết tâm thu thấp, phù phổi cấp tính, hoặc nhồi máu cơ tim cấp bị suy thất trái cấp và áp suất đưa máu về tim thấp.
  • Liều điều trị của nicorandil có thể làm hạ huyết áp của bệnh nhân tăng huyết áp, và do đó cũng như các thuốc đau thắt ngực khác, nicoradil nên được dùng thận trọng khi kê đơn đồng thời với thuốc huyết áp.
  • Đã có báo cáo về tình trạng loét đường tiêu hóa, loét niêm mạc khi sử dụng nicorandil.
  • Nên cân nhắc thay thế thuốc khi bệnh nhân bị bệnh áp-tơ hoặc bị loét miệng nặng.
  • Thủng đường tiêu hóa cũng được báo cáo khi dùng nicorandil đồng thời với các thuốc corticosteroid. Vì vậy nên thận trọng khi kết hợp các thuốc này.
  • Nicorandil cũng phải được dùng cẩn thận ở các bệnh nhân giảm thể tích máu, hoặc bệnh nhân bị phù phổi cấp.
  • Thời kỳ mang thai:
    Mặc dù những nghiên cứu trên động vật cho thấy không có tác
    dụng phụ của nicorandil trên bào thai, song do chưa có đủ dữ liệu
    lâm sàng trên người nên chỉ sử dụng nicorandil trên phụ nữ mang
    thai sau khi đã cân nhắc kỹ về lợi ích và nguy cơ.
  • Thời kỳ cho con bú:
    Chưa biết thuốc có qua sữa mẹ hay không, do đó cần thận trọng khi sử dụng nicorandil cho phụ nữ cho con bú.
  1. Quá liều và xử lý:

Quá liều cấp tính có khuynh hướng kết hợp với giãn mạch máu ngoại biên, giảm huyết áp và nhipk tim nhanh phản xạ. Nên theo dõi chức năng tim và áp dụng các biện pháp hỗ trợ tổng quát. Nếu cần thiết, tăng thể tích huyết tương tuần hoàn bằng cách truyền dịch thích hợp. Trong các trường hợp đe dọa mạng sống, có thể cân nhắc sử dụng các chất gây co mạch máu.

Bệnh viện Lê Văn Thịnh với đội ngũ Y Bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, tận tâm và luôn lấy người bệnh làm trung tâm cho mọi hoạt động, nếu người bệnh có vấn đề về sức khỏe, hay cần biết thêm thông tin hãy đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh để được tư vấn, thăm khám và điều trị.

Dược sĩ .Huỳnh Thị Thanh Thủy

(tài liệu tham khảo: theo hướng dẫn của nhà sản xuất)


DAU-THAT-NGUC-1200x601.png

21 Tháng Mười Hai, 2022 Tin TứcTruyền Thông

IVABRADIN.Chỉ định và lưu ý gì khi sử dụng.

1. Chỉ định

Thuốc Ivabradin 7.5mg được chỉ định dùng trong các trường hợp sau:

– Điều trị bệnh đau thắt ngực ổn định mạn tính:

Ivabradin được chỉ định để điều trị cho triệu chứng đau thắt ngực mạn tính ở người trưởng thành bị bệnh động mạch vành có nhịp xoang bình thường và có tần số tim > 70 nhịp/phút.

Ở người lớn không dung nạp hoặc có chống định với thuốc chẹn bêta.

Hoặc kết hợp với thuốc chẹn bêta ở các bệnh nhân chưa được kiểm soát đầy đủ với liều tối ưu của thuốc chẹn bêta.

– Điều trị suy tim mạn tính:

Ivabradin được chỉ định trong điều trị suy tim mạn tính có mức độ từ NYHA II đến IV, có rối loạn chức năng tâm thu, ở những bệnh nhân có rối loạn nhịp xoang và tần số tim > 75 nhịp/phút kết hợp với điều trị chuẩn bao gồm thuốc chẹn bêta hoặc khi thuốc chẹn bêta là chống chỉ định hoặc khi thuốc chẹn bêta không dung nạp.

2. Dược lực học

Cơ chế tác động

Ivabradin là chất làm giảm chuyên biệt tần số tim, do tác động ức chế chọn lọc và đặc hiệu dòng If của trung tâm tạo nhịp tim, dòng ion này kiểm soát sự khử cực tâm trương tự phát ở nút xoang và điều hòa tần số tim.

Tác dụng trên tim của thuốc là đặc hiệu với nút xoang mà không có ảnh hưởng tới các thời gian dẫn truyền trong nhĩ, nhĩ – thất, trong thất cũng như không có ảnh hưởng tới sự tái cực thất hoặc tới sự co cơ tim.

Ivabradin cũng có thể tương tác với dòng lh ở võng mạc mà rất giống với dòng lf ở tim. Dòng lh này tham gia vào độ phân giải tạm thời của hệ thị giác bằng cách làm giảm đáp ứng của võng mạc với xung ánh sáng chói lọi.

Trong các trường hợp được kích thích (ví dụ: Thay đổi nhanh chóng độ sáng) thì việc ivabradin ức chế một phần dòng lh làm nền tảng cho hiện tượng chói sáng có thể gặp ở bệnh nhân.

Hiện tượng chói sáng (phosphenes) được mô tả như sự tăng chói sáng tạm thời ở một vùng nhất định của thị trường.

Tác dụng dược lực học

Tính chất dược lực học chủ yếu của ivabradin ở người là sự giảm tần số tim đặc hiệu phụ thuộc vào liều lượng.

Phân tích sự giảm tần số tim với các liều tới 20 mg mỗi lần và uống 2 lần trong ngày đã chỉ rõ có khuynh hướng đạt tới tác dụng bình nguyên cùng với giảm nguy cơ nhịp tim chậm nghiêm trọng dưới 40 nhịp/phút

Với liều khuyến cáo thông thường, tần số tim giảm khoảng 10 nhịp/phút lúc nghỉ và trong lúc luyện tập. Điều này dẫn tới làm giảm gánh nặng cho tim và giảm nhu cầu oxygen cho cơ tim.

Ivabradin không có ảnh hưởng tới sự dẫn truyền trong tim, tới sự co bóp tim (không có tác dụng ức chế sự co sợi cơ tim) hoặc tới sự tái cực của tâm thất:

Trong các nghiên cứu điện sinh lý lâm sàng, ivabradin không có tác dụng trên thời gian dẫn truyền nhĩ – thất hoặc trong thất hoặc chỉnh sửa đoạn QT trên điện tâm đồ.

Với bệnh nhân có rối loạn chức năng tâm thất trái (phân suất tống máu của thất trái giữa 30% và 45%), thấy ivabradin không có ảnh hưởng có hại nào đối với phân suất tống máu.

3. Dược động học

Hấp thu

Ivabradin hấp thu nhanh và hầu như hoàn toàn sau khi uống với nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt sau khoảng 1 giờ, nếu uống thuốc khi đói.

Sinh khả dụng tuyệt đối của viên nén bao phim là khoảng 40%, do vòng chuyển hóa đầu tiên tại ruột và gan.Thức ăn làm chậm hấp thu thuốc khoảng 1 giờ, làm tăng nồng độ thuốc trong huyết tương lên 20 – 30%.

Khuyến cáo uống thuốc trong bữa ăn nhằm giúp làm giảm sự thay đổi trong từng cá thể về nồng độ thuốc.

Phân bố

Ivabradin gắn khoảng 70% vào protein huyết tương và thể tích phân bố trong trạng thái ổn định gần 100 lít ở bệnh nhân.

Nồng độ đỉnh trong huyết tương sau khi uống lâu dài liều khuyến cáo (mỗi lần 5 mg, ngày 2 lần) là 22 ng/mL (CV = 29%). Nồng độ trung bình trong huyết tương là 10 ng/mL ở trạng thái ổn định (CV = 38%).

Chuyển hóa

Ivabradin được chuyển hoá mạnh qua gan và ruột, bằng cách oxy hóa qua duy nhất cytochrome P450 3A4 (CYP3A4).

Chất chuyển hóa chính có hoạt tính là dẫn xuất N – Khử Methyl (S 18982) với nồng độ khoảng 40% của hoạt chất ivabradin ban đầu.

Sự chuyển hóa của chất chuyển hoá có hoạt tính này cũng qua CYP3A4.

Ivabradin có ái lực yếu với CYP 3A4, không ức chế hoặc gây cảm ứng rõ rệt CYP3A4. Vì vậy ít có khả năng là ivabradin đã làm thay đổi sự chuyển hoá hoặc các nồng độ trong huyết tương của các cơ chất của CYP3A4.

Ngược lại các chất ức chế mạnh CYP3A4 và các chất gây cảm ứng mạnh CYP3A4 lại có thể tác động rõ rệt tới nồng độ của ivabradin trong huyết tương.

Thải trừ

Ivabradin đào thải với thời gian bán thải chính là 2 giờ (70 – 75% của diện tích dưới đường cong) trong huyết tương, còn thời gian bán thải có hiệu lực là 11 giờ.

Độ thanh lọc tổng quát là khoảng 400ml/phút và độ thanh lọc qua thận khoảng 70 ml/phút.

Đào thải của các chất chuyển hóa qua phân và nước tiểu với lượng tương đương nhau.

Khoảng 4% liều uống được thải nguyên vẹn qua nước tiểu.

Tuyến tính/không tuyến tính: Động học của ivabradin là tuyến tính với liều uống 0,5 – 24 mg.

Những đối tượng đặc biệt

Với người cao tuổi: Không có khác biệt về dược động học (diện tích dưới đường cong và nồng độ đỉnh) khi so sánh giữa bệnh nhân cao tuổi (≥ 65 tuổi) hoặc rất cao tuổi (≥ 75 tuổi) với dân số chung.

Suy thận: Ảnh hưởng của suy thận (độ thanh thải creatinin từ 15 – 60 ml/phút) tới động học của ivabradin là tối thiểu, phù hợp với việc độ thanh lọc ở cầu thận tham gia ít (khoảng 20%) tới sự đào thải toàn thể của các ivabradin và chất chuyển hóa chính S 18982.

Suy gan: Với bệnh nhân suy gan nhẹ (độ Child – Pugh tới 7) diện tích dưới đường cong của ivabradin và của chất chuyển hóa chính có hoạt tính cao hơn khoảng 20% so với người có chức năng gan bình thường. Dữ liệu không đủ mạnh để kết luận cho bệnh nhân suy gan vừa. Không có dữ liệu trên bệnh nhân suy gan nặng.

Bệnh nhi: Dữ liệu dược động học của ivabradin trên bệnh nhi có suy tim mạn tính từ 6 tháng tuổi đến dưới 18 tuổi tương tự với dược động học được mô tả trên người lớn tuổi khi áp dụng chế độ chỉnh liều dựa trên tuổi và cân nặng.

Liên quan giữa dược động học/dược lực học (PK/PD)

Phân tích về sự liên quan dược động học/dược lực học cho thấy.

Tần số tim giảm gần như là tuyến tính khi tăng các nồng độ ivabradin và S18982 trong huyết tương cho tới liều 15 – 20 mg, mỗi ngày 2 lần. Với liều cao hơn thì sự giảm tần số tim sẽ không còn tỷ lệ thuận với nồng độ ivabradin trong huyết tương và có khuynh hướng đạt bình nguyên.

Nồng độ cao của ivabradin có thể gặp khi phối hợp ivabradin với những chất ức chế mạnh CYP3A4 có thể kéo theo giảm tần số tim quá mức.

Trong khi nguy cơ đó sẽ giảm đi khi phối hợp với chất ức chế vừa phải CYP3A4.

Mối quan hệ dược động học/dược lực học của ivabradin trên bệnh nhi có suy tim mạn tính từ 6 tháng tuổi đến dưới 18 tuổi tương tự mối quan hệ dược động học/dược lực học đã được mô tả ở người lớn.

4. Liều Dùng Của Ivabradin 7.5

Cách dùng

Thuốc Ivabradine 7.5mg có dạng viên nén dùng đường uống, sáng và tối trong các bữa ăn.

Liều dùng

Liều dùng thông thường trong điều trị triệu chứng đau thắt ngực ổn định mạn tính:

Việc khởi trị hoặc chỉnh liều điều trị được khuyến cáo diễn ra khi tiến hành đo nhiều lần tần số tim cũng như kiểm soát điện tâm đồ hoặc theo dõi ngoại trú 24 giờ.

Liều ivabradin khởi đầu không nên vượt quá 5 mg hai lần mỗi ngày ở bệnh nhân dưới 75 tuổi.

Sau ba đến bốn tuần điều trị, nếu bệnh nhân vẫn còn triệu chứng, nếu liều khởi đầu được dung nạp tốt và nếu nhịp tim lúc nghỉ trên 60 nhịp/phút, cần tăng liều tiếp theo ở bệnh nhân dùng liều 2,5 mg hai lần mỗi ngày hoặc 5 mg hai lần mỗi ngày.

Liều duy trì không nên vượt quá 7,5 mg hai lần mỗi ngày.

Nếu không có sự cải thiện triệu chứng đau thắt ngực trong vòng 3 tháng sau khi khởi trị, cần ngưng việc điều trị bằng ivabradin.

Thêm vào đó, việc dừng điều trị cần được cân nhắc nếu chỉ có đáp ứng triệu chứng hạn chế và khi không có sự giảm đáng kể trên lâm sàng về tần số tim lúc nghỉ trong vòng ba tháng.

Nếu, trong quá trình điều trị, tần số tim giảm liên tục xuống dưới 50 nhịp/phút lúc nghỉ hoặc bệnh nhân có các triệu chứng liên quan đến nhịp tim chậm như chóng mặt, mệt mỏi hoặc tụt huyết áp, liều điều trị cần được giảm xuống, có thể là 2,5 mg hai lần mỗi ngày (một nửa viên 5 mg hai lần mỗi ngày).

Sau khi giảm liều, cần theo dõi tần số tim.

Cần ngừng điều trị nếu tần số tim duy trì ở mức dưới 50 nhịp/phút hoặc triệu chứng của nhịp tim chậm vẫn tiếp diễn ngay cả khi giảm liều.

Liều dùng thông thường trong điều trị suy tim mạn tính:

Việc điều trị chỉ được bắt đầu trên những bệnh nhân suy tim ổn định.

Các bác sĩ điều trị được khuyến cáo nên có kinh nghiệm trong việc điều trị suy tim mạn tính.

Liều khởi trị thông thường được khuyến cáo của ivabradin là 5 mg hai lần mỗi ngày.

Sau hai tuần điều trị, liều dùng có thể tăng lên 7,5 mg hai lần mỗi ngày nếu tần số tim lúc nghỉ liên tục trên 60 nhịp/phút hoặc giảm xuống 2,5 mg hai lần mỗi ngày (một nửa viên 5 mg hai lần mỗi ngày) nếu tần số tim lúc nghỉ liên tục dưới 50 nhịp/phút hoặc trong trường hợp có các triệu chứng liên quan đến nhịp tim chậm như chóng mặt, mệt mỏi hoặc tụt huyết áp.

Nếu tần số tim ở giữa khoảng 50 và 60 nhịp/phút, duy trì liều dùng 5 mg hai lần mỗi ngày.

Nếu trong quá trình điều trị, tần số tim lúc nghỉ giảm liên tục xuống dưới 50 nhịp/phút hoặc bệnh nhân có các triệu chứng liên quan đến nhịp tim chậm, liều dùng cần được giảm xuống liều thấp hơn ở những bệnh nhân đang sử dụng 7,5 mg hai lần mỗi ngày hoặc 5 mg hai lần mỗi ngày.

Nếu nhịp tim tăng ổn định trên 60 nhịp/phút lúc nghỉ, những bệnh nhân đang sử dụng liều 2,5 mg hoặc 5 mg hai lần mỗi ngày có thể được chỉnh tới mức liều cao hơn.

Phải ngưng điều trị trong trường hợp tần số tim duy trì dưới mức 50 nhịp/phút hoặc các triệu chứng nhịp tim chậm vẫn tồn tại.

Người cao tuổi: Ở các bệnh nhân từ 75 tuổi trở lên, nên cân nhắc sử dụng liều thấp hơn (2,5 mg hai lần mỗi ngày ví dụ nửa viên 5 mg hai lần mỗi ngày) trước khi tăng liều nếu cần thiết.

Bệnh nhân suy thận: Không yêu cầu hiệu chỉnh liều ở các bệnh nhân suy thận và có độ thanh thải creatinin trên 15 mL/phút.

Hiện chưa có dữ liệu ở các bệnh nhân có độ thanh thải creatinin dưới 15 mL/phút. Ivabradin do đó nên được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân này.

Bệnh nhân suy gan: Không yêu cầu hiệu chỉnh liều ở các bệnh nhân suy gan mức độ nhẹ.

Nên thận trọng khi sử dụng ivabradin cho các bệnh nhân suy gan mức độ trung bình. Chống chỉ định sử dụng ivabradin cho các bệnh nhân suy gan nặng, do chưa được nghiên cứu trên đối tượng bệnh nhân này và có dữ liệu về sự gia tăng mạnh nồng độ.

Trẻ em: Hiệu quả và an toàn của ivabradin trong điều trị suy tim mãn tính ở trẻ em dưới 18 tuổi chưa được thiết lập.

Các dữ liệu hiện có được mô tả trong mục “Dược lực học” và “Dược động học”, tuy nhiên hiện vẫn chưa đưa ra được khuyến cáo nào về chế độ liều lượng.

Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế.

Làm gì khi dùng quá liều?

Triệu chứng: Quá liều có thể dẫn đến nhịp chậm nghiêm trọng và kéo dài.

Cách xử lý: Nhịp chậm nghiêm trọng cần được điều trị triệu chứng tại chuyên khoa sâu. Trong trường hợp nhịp chậm kèm theo kém dung nạp về huyết động, có thể cần cân nhắc điều trị triệu chứng, bao gồm thuốc kích thích bêta tiêm tĩnh mạch như isoprenaline. Nếu cần, có thể tạm thời đặt máy tạo nhịp.

Làm gì khi quên 1 liều?

Nếu bạn quên một liều thuốc, hãy dùng càng sớm càng tốt. Tuy nhiên, nếu gần với liều kế tiếp, hãy bỏ qua liều đã quên và dùng liều kế tiếp vào thời điểm như kế hoạch. Lưu ý rằng không nên dùng gấp đôi liều đã quy định.

5. Tác Dụng Phụ Của Ivabradin

Khi sử dụng thuốc Ivabradine 7.5mg, bạn có thể gặp các tác dụng không mong muốn (ADR):

Rất thường gặp, ADR > 1/10

Rối loạn về thị giác: Hiện tượng chói sáng (phosphene).

Thường gặp, 1/100 < ADR <1/10

Rối loạn về thị giác: Nhìn mờ.

Rối loạn về tim mạch: Nhịp tim chậm, blốc nhĩ thất độ 1, ngoại tâm thu thất, rung nhĩ.

Rối loạn về hệ thần kinh: đau đầu, chóng mặt.

Rối loạn mạch: Huyết áp không kiểm soát.

Ít gặp, (1/1000 < ADR < 1/100)

Rối loạn về máu và hệ bạch huyết: Tăng bạch cầu.

Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng: Tăng acid uric máu.

Rối loạn thị giác: Nhìn đôi, suy giảm thị giác.

Rối loạn tai và mê cung: Mất thăng bằng.

Rối loạn về tim mạch: Đánh trống ngực, ngoại tâm thu trên thất.

Rối loạn về hệ thần kinh: Ngất có thể liên quan đến chậm nhịp tim.

Rối loạn mạch: Hạ huyết áp có thể liên quan đến nhịp tim chậm.

Rối loạn hệ tiêu hóa: Buồn nôn, táo bón, tiêu chảy, đau bụng.

Rối loạn da và mô dưới da: Phù mạch, phát ban.

Rối loạn cơ xương khớp và mô liên kết: Chuột rút.

Rối loạn chung: Mệt mỏi, suy nhược có thể liên quan đến nhịp chậm.

Thông số: Tăng creatinine máu, kéo dài đoạn QT trên điện tâm đồ.

Rất hiếm gặp, (1/10000 < ADR < 1/1000)

Rối loạn về tim mạch: Block nhĩ thất độ 2, block nhĩ thất độ 3.

Rối loạn da và mô dưới da: Ban đỏ, viêm da, nổi mề đay.

Rối loạn chung: Cảm giác bất ổn, có thể liên quan đến nhịp chậm.

Hướng dẫn cách xử trí ADR

Thông báo cho bác sĩ các tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

Lưu ý Của Ivabradin 7.5

Trước khi sử dụng thuốc bạn cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng và tham khảo thông tin bên dưới.

6. Chống chỉ định

Thuốc Ivabradine 7.5 mg chống chỉ định cho các trường hợp sau:

Mẫn cảm với bất cứ thành phần nào của thuốc.

Tần số tim lúc nghỉ dưới 70 nhịp/phút trước khi điều trị.

Sốc tim.

Nhồi máu cơ tim cấp.

Huyết áp quá thấp (dưới 90/50 mmHg).

Suy gan nặng

Rối loạn chức năng nút xoang

Block xoang nhĩ

Suy tim cấp hoặc không ổn định

Cơn đau thắt ngực không ổn định.

Phụ thuộc máy tạo nhịp.

Block nhĩ thất độ 3.

Phối hợp với các thuốc có tính ức chế mạnh cytochrome P450 3A4 như các thuốc kháng nấm nhóm azole (ketoconazol, itraconazole), kháng sinh nhóm macrolid (erythromycin uống, clarithromycin, josamycin, telithromycin), thuốc ức chế protease HIV (nelfinavir, ritonavir), nefazodone.

Phối hợp với thuốc verapamil hoặc diltiazem là những thuốc ức chế trung bình CYP3A4 có đặc tính làm giảm nhịp tim.

Phụ nữ mang thai, cho con bú và phụ nữ có khả năng có thai mà không sử dụng biện pháp tránh thai an toàn.

Thận trọng khi sử dụng

Thiếu lợi ích về kết quả lâm sàng trên bệnh nhân đau thắt ngực ổn định có triệu chứng. Ivabradin chỉ được chỉ định trên bệnh nhân có đau thắt ngực ổn định mạn tính vì thuốc này không đem tới lợi ích tác động trên tim mạch.

Đo nhịp tim:

Do nhịp tim có thể dao động đang kể theo thời gian nên cần cân nhắc tiến hành đo nhịp tim, kiểm soát điện tâm đồ hoặc theo dõi ngoại trú 24h khi xác định tần số tim lúc nghỉ trước khi điều trị với Ivabradin, có thể áp dụng theo dõi điều trị  đối với những bệnh nhân có tần số tim dưới 50 nhịp/phút sau khi giảm liều.

Loạn nhịp tim:

Ivabradin không có hiệu lực điều trị hoặc ngăn ngừa loạn nhịp tim và cũng có thể mất hiệu lực khi có rối loạn nhịp tim nhanh (ví dụ nhịp nhanh thất hoặc nhịp nhanh trên thất). Vì vậy không khuyến cáo dùng ivabradin cho bệnh nhân rung nhĩ hoặc có những rối loạn nhịp tim khác mà có tương tác với chức năng của nút xoang.

Cần theo dõi thường xuyên về lâm sàng ở bệnh nhân dùng ivabradin xem có xảy ra rung nhĩ (kéo dài hoặc kịch phát), kể cả đo điện tâm đồ khi có chỉ định của lâm sàng (ví dụ trong trường hợp đau thắt ngực trầm trọng, đánh trống ngực, mạch bất thường).

Bệnh nhân blốc nhĩ – thất độ 2:

Không nên dùng ivabradin.

Sử dụng cho bệnh nhân có nhịp tim chậm:

Không được khởi đầu điều trị bằng Ivabradin cho bệnh nhân có nhịp tim lúc nghỉ trước điều trị dưới 70 nhịp/phút.

Nếu trong quá trình điều trị mà nhịp tim lúc nghỉ luôn dưới 50 nhịp/phút hoặc bệnh nhân có các triệu chứng liên quan đến chậm nhịp tim, như choáng váng, mệt mỏi hoặc tụt huyết áp, thì phải giảm liều.

Ngưng điều trị bằng Ivabradin nếu nhịp tim dưới 50 lần/phút hoặc nếu các triệu chứng chậm nhịp tim tồn tại dai dẳng.

Phối hợp các thuốc chẹn kênh calci:

Không khuyến cáo phối hợp ivabradin với các thuốc chẹn calci có làm giảm tần số tim như verapamil hoặc diltiazem.

Chưa có dữ liệu về độ an toàn khi phối hợp ivabradin với các nitrat và với các chất chẹn calci nhóm dihydropyridine như amlodipine.

Chưa xác định được Ivabradin có tăng hiệu lực khi phối hợp với thuốc chẹn calci nhóm dihydropyridine .

Suy tim mạn tính:

Suy tim phải được kiểm soát thỏa đáng trước khi cân nhắc dùng Ivabradin.

Chống chỉ định sử dụng Ivabradin ở bệnh nhân suy tim độ III-IV theo xếp loại của NYHA, do còn thiếu dữ liệu về hiệu lực lâm sàng và độ an toàn (xem mục Chống chỉ định).

Cần thận trọng với bệnh nhân có rối loạn chức năng tâm thất trái không triệu chứng cũng như bệnh nhân suy tim độ II theo NYHA do số lượng bệnh nhân nghiên cứu còn ít.

Đột quỵ:

Không khuyến cáo dùng ivabradin ngay sau khi đột quỵ, vì chưa đủ dữ liệu cho những trường hợp này.

Chức năng thị giác:

Ivabradin có ảnh hưởng tới chức năng của võng mạc.

Cho tới nay chưa có chứng cứ về tác hại của Ivabradin trên võng mạc, hiện chưa rõ những ảnh hưởng của Ivabradin điều trị kéo dài trên một năm đối với chức năng võng mạc.

Cần cân nhắc sử dụng thuốc khi gặp bất kỳ bệnh lý nào liên quan tới chức năng thị giác.

Cũng thận trọng với bệnh nhân viêm võng mạc sắc tố.

Bệnh nhân hạ huyết áp:

Còn thiếu dữ liệu ở bệnh nhân hạ huyết áp ở mức độ nhẹ và trung bình và do đó cần dùng thận trọng Ivabradin cho những đối tượng này.

Chống chỉ định Ivabradin cho bệnh nhân tụt huyết áp nghiêm trọng (huyết áp < 90/50 mmHg).

Rung nhĩ – loạn nhịp tim:

Chưa có chứng cứ về nguy cơ chậm nhịp tim (quá mức) khi quay trở lại nhịp xoang nếu bắt đầu khử rung tim cho bệnh nhân dùng Ivabradin.

Tuy nhiên khi chưa đủ dữ liệu, nên cân nhắc tiến hành khử rung 24 giờ sau khi dùng liều Ivabradin cuối cùng.

Sử dụng ở bệnh nhân có hội chứng QT bẩm sinh hoặc điều trị với các thuốc làm kéo dài đoạn QT:

Cần tránh sử dụng ở bệnh nhân có hội chứng QT bẩm sinh hoặc điều trị với các thuốc làm kéo dài đoạn QT.

Nếu thấy cần phối hợp như vậy, cần theo dõi tim rất cẩn thận.

Giảm nhịp tim, do ivabradin, có thể làm trầm trọng thêm sự kéo dài khoảng QT, đặc biệt là xoắn đỉnh.

Bệnh nhân tăng huyết áp cần phải thay đổi điều trị về huyết áp:

Khi thay đổi điều trị trên bệnh nhân suy tim mạn tính với Ivabradin, nên theo dõi huyết áp trong khoảng thời gian thích hợp do có nghiên cứu cho thấy những bệnh nhân sử dụng Ivabradin có nhiều cơn tăng huyết áp hơn so với giả dược, nhưng những giai đoạn này chủ yếu là thoáng qua sau khi thay đổi điều trị huyết áp và không ảnh hưởng đến hiệu quả điều của với Ivabradin.

Tá dược:

Vì viên nén có chứa lactose, không nên dùng cho các bệnh nhân có vấn đề về di truyền (hiếm gặp) như không dung nạp galactose, hoặc thiếu hụt men Lapp lactase hoặc kém hấp thu glucose-galactose.

Khả năng lái xe và vận hành máy móc

Một nghiên cứu thực hiện trên người tình nguyện khỏe mạnh nhằm đánh giá ảnh hưởng của ivabradin trên khả năng lái xe cho thấy không có thay đổi nào được ghi nhận. Tuy nhiên, các trường hợp ảnh hưởng đến khả năng lái xe do các tác dụng trên thị giác đã được báo cáo trong khi lưu hành.

Ivabradin có thể tạm thời gây ra hiện tượng mắt chói sáng. Khả năng xuất hiện hiện tượng mắt chói sáng nên được lưu ý trong trường hợp lái xe và vận hành máy móc mà cường độ ánh sáng thay đổi đột ngột, đặc biệt lái xe vào ban đêm.

Ivabradin không ảnh hưởng lên khả năng vận hành máy móc.

Thời kỳ mang thai 

Phụ nữ có khả năng có thai: Cần sử dụng biện pháp tránh thai thích hợp trong suốt quá trình điều trị.

Phụ nữ mang thai: Không có dữ liệu hoặc dữ liệu hiện có còn giới hạn trong việc sử dụng ivabradin ở phụ nữ mang thai.

Các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy độc tính trên sinh sản. Những nghiên cứu này đã chỉ ra hậu quả gây nhiễm độc thai nhi và quái thai. Những nguy cơ này trên người chưa được biết đến. Do đó, ivabradin là chống chỉ định trong thời gian mang thai.

Thời kỳ cho con bú 

Các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy ivabradin được bài tiết qua sữa mẹ. Do đó, ivabradin là chống chỉ định trong thời gian cho con bú. Phụ nữ cần điều trị với ivabradin nên dừng cho con bú. Và chọn phương pháp ăn khác cho con.

Tương tác thuốc

Tương tác dược lực học

Sử dụng đồng thời không được khuyến cáo:

Các chất làm kéo dài đoạn QT:

Thuốc tim mạch làm kéo dài đoạn QT (ví dụ quinidine, sotalol, disopyramide, bepridil, ibutilide, amiodarone).

Thuốc không phải tim mạch làm kéo dài đoạn QT (ví dụ: Pimozide, ziprasidone, sertindole, mefloquine, halofantrine, pentamidine, cisapride, erythromycin tĩnh mạch).

Tránh phối hợp các thuốc tim mạch và không tim mạch gây kéo dài đoạn QT cùng với Ivabradin vì tình trạng kéo dài đoạn QT có thể trầm trọng hơn do giảm nhịp tim.

Nếu cần phối hợp, phải theo dõi chặt chẽ trạng thái tim.

Sử dụng đồng thời yêu cầu thận trọng:

Thuốc lợi tiểu làm giảm kali (thuốc lợi tiểu thiazide và thuốc lợi tiểu quai): Hạ kali máu có thể làm tăng nguy cơ rối loạn nhịp tim.

Do ivabradin có thể gây chậm nhịp tim, kết quả của sự phối hợp hạ kali máu và giảm nhịp tim là một yếu tố nền khởi phát rối loạn nhịp tim nghiêm trọng, đặc biệt ở các bệnh nhân có hội chứng QT kéo dài bẩm sinh hay do dùng thuốc.

Tương tác dược động học

Cytochrom P450 3A4 (CYP3A4):

Ivabradin chỉ được chuyển hóa qua CYP3A4 và là chất ức chế rất yếu của cytochrom này.

Ivabradin cho thấy không có ảnh hưởng đến chuyển hóa và tới các nồng độ trong huyết tương của các cơ chất khác của CYP3A4 (các chất ức chế nhẹ, trung bình và mạnh).

Các chất ức chế và gây cảm ứng CYP3A4 có khả năng tương tác với ivabradin và có ảnh hưởng tới chuyển hóa và dược động học của ivabradin ở mức độ có ý nghĩa lâm sàng.

Nghiên cứu tương tác thuốc đã xác định là các chất ức chế CYP3A4 làm tăng nồng độ của ivabradin trong huyết tương, trong khi các chất gây cảm ứng lại làm giảm nồng độ ivabradin.

Tăng nồng độ trong huyết tương của ivabradin có thể liên quan tới nguy cơ chậm nhịp tim quá mức.

Sử dụng đồng thời là chống chỉ định:

Phối hợp ivabradin với những chất ức chế mạnh CYP3A4 như thuốc chống nấm nhóm azole (ketoconazole, itraconazole), kháng sinh nhóm macrolide (clarithromycin, erythromycin uống, josamycin, telithromycin), chất ức chế HIV protease (nelfinavir, ritonavir) và nefazodone (xem mục Chống chỉ định).

Các chất ức chế CYP3A4 mạnh như ketoconazole (200 mg, ngày 1 lần) hoặc josamycin (1 g, ngày 2 lần) làm tăng nồng độ Ivabradin trong huyết tương lên 7 đến 8 lần.

Không nên phối hợp với ivabradin với các chất ức chế vừa phải CYP3A4:

Nghiên cứu tương tác đặc hiệu trên người tình nguyện và trên bệnh nhân cho thấy nếu dùng Ivabradin cùng với diltiazem hoặc verapamil (là các thuốc làm giảm nhịp tim) sẽ làm tăng nồng độ của Ivabradin (tăng diện tích dưới đường cong lên 2-3 lần) và làm chậm thêm nhịp tim là 5 nhịp mỗi phút.

Không khuyến cáo phối hợp Ivabradin với những thuốc trên .

Sử dụng đồng thời không được khuyến cáo:

Nước ép bưởi chùm:

Nồng độ ivabradin tăng 2 lần khi sử dụng cùng với nước ép bưởi chùm.

Do đó nên tránh sử dụng nước ép bưởi chùm trong quá trình điều trị với ivabradin.

Sử dụng đồng thời yêu cầu thận trọng:

Các chất ức chế trung bình CYP3A4: Sử dụng đồng thời ivabradin với các chất ức chế trung bình CYP3A4 khác (ví dụ fluconazole) có thể được cân nhắc ở liều khởi đầu 2,5 mg hai lần mỗi ngày và nếu tần số tim lúc nghỉ trên 70 nhịp/phút, với sự giám sát tần số tim.

Các chất gây cảm ứng CYP3A4:

Các chất gây cảm ứng CYP3A4 (ví dụ rifampicin, barbiturates, phenytoin, Hypericum perforatum [St John’s Wort] có thể làm giảm nồng độ và mức độ hoạt động của ivabradin.

Việc sử dụng đồng thời các chất gây cảm ứng CYP3A4 có thể cần phải điều chỉnh liều của ivabradin. Sử dụng đồng thời ivabradin 10 mg hai lần một ngày với St John’s Wort đã cho thấy diện tích dưới đường cong (AUC) của ivabradin giảm một nửa.

Sử dụng St John’s Wort nên được giới hạn trong khi điều trị với ivabradin.

Những phối hợp khác:

Các nghiên cứu đặc hiệu trên tương tác thuốc-thuốc đã chứng minh không có ảnh hưởng đáng kể nào trên lâm sàng của các thuốc sau trên dược động học và dược lực học của ivabradin:

Các thuốc ức chế bơm proton (omeprazole, lanzoprazole), sildenafil, các chất ức chế HMG CoA reductase (simvastatin), các thuốc chẹn kênh calci nhóm dihydropyridine (amlodipine, lacidipine), digoxin và warfarinThêm vào đó, không có ảnh hưởng lâm sàng đáng kể nào của ivabradin trên dược động học của simvastatin, amlodipine, lacidipine, trên dược động học và dược lực học của digoxin, warfarin và trên dược lực học của aspirin.

Trong các thử nghiệm lâm sàng pha III quan trọng những thuốc sau đây đã được thường xuyên phối hợp với ivabradin mà không có nghi ngờ nào liên quan đến các vấn đề về an toàn:

Các thuốc ức chế men chuyển angiotensin, thuốc đối kháng angiotensin II, thuốc chẹn bêta, thuốc lợi tiểu, thuốc kháng aldosterone, nitrate tác dụng nhanh và tác dụng kéo dài, các thuốc ức chế enzym khử HMG CoA reductase, các thuốc nhóm fibrate, thuốc ức chế bơm proton, thuốc đái tháo đường dạng uống, aspirin và các thuốc chống kết tập tiểu cầu khác.

Trẻ em: Các nghiên cứu về tương tác thuốc cho đến nay chỉ được tiến hành ở người

trưởng thành.

Bảo quản thuốc dưới 30C.

Bệnh viện Lê Văn Thịnh với đội ngũ Y Bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, tận tâm và luôn lấy người bệnh làm trung tâm cho mọi hoạt động, nếu người bệnh có vấn đề về sức khỏe, hay cần biết thêm thông tin hãy đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh để được tư vấn, thăm khám và điều trị.

DS.Phan Thị Thanh Trà

(Tờ hướng dẫn sử dụng thuốc Ivabradin 7.5mg)

 


Thông Tin Liên Hệ

BỆNH VIỆN LÊ VĂN THỊNH
Địa chỉ: 130 Lê Văn Thịnh, phường Bình Trưng, thành phố Hồ Chí Minh
Điện thoại: 1900633878
Email: bvlvthinh.tpthuduc@tphcm.gov.vn
Thời gian làm việc:
- Trong giờ: 06:00 - 16:30
- Ngoài giờ: 16:30 - 19:00
Cấp cứu: 24/7

Bản Quyền © 2021 Bệnh Viện Lê Văn Thịnh - Thiết Kế và Phát Triển bởi Hân Gia Group