Augmentin là loại thuốc kháng sinh thường được kê đơn để điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn như viêm xoang, viêm tai giữa, nhiễm trùng da, nhiễm khuẩn đường tiết niệu…
Augmentin có thành phần hoạt chất là kết hợp của amoxicillin và clavulanic acid, là thuốc kháng sinh phổ rộng thuộc nhóm penicillin. Amoxicillin (dưới dạng amoxicillin trihydrate) có tác dụng chống lại vi khuẩn gây bệnh, còn clavulanate (dưới dạng clavulanate kali) đóng vai trò là chất ức chế beta-lactamase, giúp chống lại các chủng vi khuẩn có khả năng đề kháng nhóm penicillin.
Công dụng của Augmentin được ứng dụng trong điều trị nhiều bệnh nhiễm trùng do các loại vi khuẩn khác nhau gây ra, chẳng hạn như viêm xoang, viêm phế quản phổi, nhiễm trùng tai giữa, nhiễm trùng đường tiểu và nhiễm trùng da.

Thuốc Augmentin rất thường được bác sĩ chỉ định trong điều trị nhiễm trùng cho bệnh nhân. Tuy nhiên, không phải ai cũng có đáp ứng tốt với thuốc.
Tuyệt đối không sử dụng thuốc Augmentin nếu bệnh nhân bị dị ứng với các thành phần của thuốc (amoxicillin và clavululate) hoặc từng mắc các vấn đề về gan do tác động của thuốc gây ra. Những trường hợp bệnh nhân có tiền sử dị ứng với các thuốc sau cũng không được sử dụng Augmentin: amoxicillin (spamox, curam, aumoxtine), ampicillin (unasyn, bipisyn, nerusyn), cloxacillin (faclacin, tazam), penicillin (ospen, benzathin penicillin).
Thành phần amoxicillin và clavulanate của Augmentin khả năng thẩm thấu vào sữa mẹ và gây hại cho trẻ sơ sinh khi bú mẹ. Do đó, người mẹ tuyệt đối không sử dụng loại thuốc này trong thời kỳ cho con bú mà chưa được bác sĩ tư vấn và kê toa.
Thuốc Augmentin được chỉ định trong trường hợp cần điều trị ngắn hạn các loại nhiễm khuẩn gây ra, bởi chủng vi khuẩn nhạy cảm với tác dụng của amoxicillin/clavulanate đối với các vị trí sau đây:
Liều dùng của thuốc Augmentin sẽ khác nhau tùy thuộc vào tuổi tác, cân nặng, tình hình sức khỏe, tình trạng bệnh và khả năng đáp ứng điều trị của bệnh nhân. Tuy nhiên, sau khi dùng một liều Augmentin thì liều thứ hai trong ngày nên cách liều thứ nhất từ 8 giờ đến 12 giờ. Để tối đa hóa hiệu quả điều trị, nên dùng thuốc kháng sinh Augmentin vào những khoảng thời gian cách đều nhau và cùng một thời điểm mỗi ngày.
Kiên trì dùng thuốc cho tới khi hết lượng thuốc được kê toa, thậm chí cả khi các triệu chứng đã biến mất sau vài ngày điều trị. Sở dĩ bệnh nhân cần phải tuân thủ điều trị vì việc ngừng thuốc quá sớm có thể làm mất đi tác dụng của thuốc, khiến cho vi khuẩn tiếp tục phát triển, dẫn đến nhiễm trùng tái phát và gây vi khuẩn nhờn thuốc.
Nếu có dấu hiệu dị ứng với Augmentin, bệnh nhân cần ngừng dùng thuốc, tái khám và trình bày rõ với bác sĩ để được đổi sang một thuốc khác phù hợp hơn, tránh những hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra.
Bệnh viện Lê Văn Thịnh với đội ngũ Y Bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, tận tâm và luôn lấy Người bệnh làm trung tâm cho mọi hoạt động, nếu Người bệnh có vấn đề về sức khỏe, hay cần biết thêm thông tin hãy đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh để được tư vấn, thăm khám và điều trị.
Dược sĩ
Trần Thị Diễm Trang
(Tài liệu tham khảo: theo hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất)

Theo Cục quản lý Dược, Cục nhận được phản ánh của Công ty Zhejiang Xianju Pharmaceutical Co., Ltd. (gọi tắt là công ty Zhejiang) về 2 lô nguyên liệu Methylprednisolone ghi nhãn số lô: 04.1064-191204 và số lô: 04.1064-220107, nhà sản xuất Zhejiang Xianju Pharmaceutical Co., Ltd. đã nhập khẩu và sử dụng tại Việt Nam, nhưng nguyên liệu này lại không phải là sản phẩm của Công ty Zhejiang Xianju Pharmaceutical Co., Ltd. sản xuất.
Cục Quản lý Dược cho biết, qua rà soát đã có 4 công ty dược phẩm trong nước là Cổ phần dược phẩm Trung ương I; Cổ phần US Pharma USA; Cổ phần dược phẩm Quảng Bình và Cổ phần dược phẩm Tipharco sản xuất thuốc từ 2 lô nguyên liệu này.
Tổng số có 13 loại thuốc, với 42 lô sản xuất từ nguyên liệu này trong thời gian từ năm 2020 – nay gồm: Methylprednisolone 16mg; Hormedi 16 (Công ty Cổ phần dược phẩm Trung ương I – Pharbaco); Kidsolon 4; Robmedril (Methylprednisolone 4mg và 16 mg); Cadipredson 4; Cadipredson 16 (Công ty Cổ phần US Pharma USA);
Medsolu 16mg; Medsolu 4mg (Công ty Cổ phần dược phẩm Quảng Bình); Tiphapred M4 và M16; Tiamesolon 4 và 16 (Công ty Cổ phần dược phẩm Tipharco).
Cục Quản lý Dược yêu cầu thu hồi toàn quốc đối với toàn bộ các lô thuốc đã được sản xuất từ 2 lô nguyên liệu Methylprednisolone ghi nhãn số lô: 04.1064-191204 và số lô: 04.1064-220107 nêu trên.
Các cơ sở sản xuất phối hợp với nhà cung cấp và phân phối phải phải trong thời hạn 2 ngày gửi thông báo thu hồi tới các cơ sở bán buôn, bán lẻ, sử dụng và tiến hành thu hồi toàn bộ các lô thuốc trong danh sách, gửi báo cáo thu hồi về Cục Quản lý dược trong vòng 18 ngày.
Hồ sơ thu hồi bao gồm số lượng, ngày sản xuất, số lượng thu hồi, các bằng chứng về việc thực hiện thu hồi tại các cơ sở bán buôn, bán lẻ, sử dụng đã mua thuốc.
Cục Quản lý Dược đề nghị Sở Y tế các tỉnh, thành phố, y tế các ngành thông báo cho các cơ sở kinh doanh, sử dụng thuốc thu hồi các lô thuốc này; công bố thông tin về quyết định thu hồi thuốc trên trang thông tin điện tử của sở; kiểm tra và giám sát các đơn vị thực hiện thông báo này; Xử lý những đơn vị vi phạm theo quy định hiện hành.
Cục Quản lý Dược cũng đề nghị Sở Y tế các địa phương có cơ sở sản xuất thuốc đóng trên địa bàn kiểm tra và giám sát cơ sở sản xuất thuốc thực hiện việc thu hồi và xử lý thuốc bị thu hồi theo quy định.
Thuốc methylprednisolone được dùng để điều trị các bệnh lý như viêm xương khớp, các bất thường về máu, một số phản ứng dị ứng nguy hiểm, một số bệnh ung thư, bệnh về mắt, bệnh về da, thận, đường ruột và bệnh phổi hoặc bất thường hệ thống miễn dịch.
Thuốc methylprednisolone có tác dụng ức chế hệ thống miễn dịch của cơ thể để đáp ứng với các bệnh lý khác nhau, qua đó giúp giảm các triệu chứng khó chịu như sưng, đau và dị ứng. Corticoid bản chất là một loại hormon của cơ thể (cortisol). Do đó, thuốc methylprednisolone còn được dùng kèm với một số thuốc khác để điều trị tình trạng rối loạn hormone cơ thể.
Bệnh viện Lê Văn Thịnh với đội ngũ Y Bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, tận tâm và luôn lấy Người bệnh làm trung tâm cho mọi hoạt động, nếu Người bệnh có vấn đề về sức khỏe, hay cần biết thêm thông tin hãy đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh để được tư vấn, thăm khám và điều trị.
Ds. Đinh Khắc Thành Đô
(Nguồn: SKĐS, trang Cục Quản Lý Dược)
Adenovirus có thể gây ra một loạt các bệnh bao gồm:
Các bệnh ít phổ biến hơn do adenovirus gây ra bao gồm nhiễm trùng bàng quang hoặc viêm và bệnh thần kinh (tình trạng ảnh hưởng đến não và tủy sống)

Adenovirus thường lây lan từ người bị nhiễm sang những người khác thông qua:
Mọi đối tượng ở mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh lây nhiễm Adenovirus. Sau khi người bệnh gặp phải Adenovirus sẽ có miễn dịch đặc hiệu với Type bị nhiễm. Trường hợp bị tái nhiễm có thể đến từ type khác của Adenovius. Đến nay vẫn chưa có thông tin chính thức về vai trò cũng như thời gian miễn dịch sau khi Adenovirus xâm nhập vào cơ thể.
Tuy nhiên, bệnh do Adenovius gây ra thường thấy ở những người có sức đề kháng yếu như trẻ nhỏ, người cao tuổi, người bị bệnh mạn tính,… Trong đó đặc biệt là đối tượng trẻ em trong giai đoạn từ 6 tháng – 5 tuổi cha mẹ cần lưu ý về sức khỏe của con trong giai đoạn giao mùa dịch đang bùng phát mạnh.
Bệnh do Adenovirus rất dễ lây lan bằng cách trực tiếp và gián tiếp, nên cũng dễ bùng phát thành dịch chính vì vậy khi phát hiện bản thân hay những người xung quanh mình nhiễm Adenovirus cần có các biện pháp phòng ngừa hợp lý, tránh bệnh bùng phát thành dịch.
Nếu có vấn đề về sức khỏe Người bệnh nên đến ngay cơ sở Y tế để được thăm khám và tư vấn.
Theo dõi website: benhvienlevanthinh.vn để nắm thêm nhiều thông tin sức khỏe, dinh dưỡng, làm đẹp để bảo vệ sức khỏe cho bản thân và những người thân yêu trong gia đình.
Dược sĩ
Trần thị diễm trang
(Theo CDC)
CLOPIDOGREL 75 mg Chỉ định và những lưu ý khi dùng
Tên thuốc gốc (Hoạt chất): Clopidogrel
Loại thuốc: Thuốc ức chế kết tập tiểu cầu
Hàm lượng: 75mg
Phòng ngừa các biến cố huyết khối do xơ vữa động mạch
Clopidogrel được chỉ định dùng cho:
– Các bệnh nhân là người lớn bị NMCT (từ vài ngày đến ít hơn 35 ngày), đột quỵ do thiếu máu cục bộ (từ 7 ngày đến ít hơn 6 tháng) hoặc bệnh lý động mạch ngoại biên đã thành lập.
– Các bệnh nhân là người lớn bị hội chứng mạch vành cấp tính:
+ Hội chứng mạch vành cấp tính không có đoạn ST chênh lênh, bao gồm các bệnh nhân có đặt giá đỡ mạch vành (stent) trong quá can thiệp động mạch vành qua da, dùng kết hợp với Aspirin.
+ NMCT cấp tính có đoạn ST chênh lên dùng kết hợp với Aspirin ở bệnh nhân được điều trị nội khoa và điều trị bằng thuốc tiêu sợi huyết.
Dự phòng các biến cố thuyến tắc huyết khối do xơ vữa ở bệnh nhân rung nhĩ: Bệnh nhân trưởng thành bị rung nhĩ có ít nhất một yếu tố nguy cơ gặp các biến cố tim mạch, không thể sử dụng được thuốc kháng vitamin K và có nguy cơ xuất huyết thấp, có thể được chỉ định dùng Clopidogrel kết hợp với Aspirin để dự phòng huyết khối xơ vữa và các biến cố thuyên tắc huyết khối.
– Người trưởng thành và người già:
Clopidogrel được khuyên dùng với liều duy nhất 75mg/ngày.
+ Hội chứng mạch vành cấp tính không đoạn ST chênh lênh, nên bắt đầu điều trị bằng Clopidogrel với liều nạp 300mg dùng một lần duy nhất và sau đó tiếp tục với liều 75mg một lần/ngày (kết hợp với Aspirin 75mg-325mg hằng ngày). Do liều Aspirin càng cao thì nguy cơ xuất huyết càng cao do vậy không nên dùng Aspirin với liều vượt quá 100mg. Thời gian điều trị tối ưu chưa được xác định chính thức. Dữ liệu từ các nghiên cứu lâm sàng hỗ trợ việc dùng đến 12 tháng và lợi ích tối đa được ghi nhận từ tháng thứ 3.
+ Nhồi máu cơ tim cấp có đoạn ST chênh lênh: dùng liều nạp Clopidogrel 300mg kết hợp với Aspirin, sau đó dùng 75mg mỗi ngày kết hợp với Aspirin và với hoặc không biện pháp làm tiêu huyết khối. Ở bệnh nhân trên 75 tuổi, không dùng liều nạp lúc khởi đầu điều trị. Liệu pháp kết hợp nên được khởi đầu càng sớm càng tốt sau khi bắt đầu có triệu chứng và tiếp tục duy trì ít nhất 4 tuần. Lợi ích của sự kết hợp giữa Clopidogrel với Aspirin dùng sau 4 tuần chưa được nghiên cứu.
Ở bệnh nhân rung nhĩ, nên dùng Clopidogrel 75 mg liều duy nhất/ngày kết hợp Aspirin (75mg-100mg).
Nếu quên dùng một liều:
– Trong vòng dưới 12 giờ sau khi dùng liều theo liệu trình thông thường: bệnh nhân nên dùng ngay1 liều kế tiếp theo đúng lịch trình thông thường.
– Nếu trên 12 giờ theo lịch trình thông thường: bệnh nhân nên dùng liều kế tiếp theo lịch trình thông thường và không nên dùng gấp đôi liều.
– Bệnh nhi:
Do chưa có đủ dữ liệu về hiệu quả nên không dùng Clopidogrel cho trẻ em.
– Bệnh nhân suy thận:
Chưa có kinh nghiệm dùng Clopidogrel ở những bệnh nhân này.
– Bệnh nhân suy gan:
Chưa có kinh nghiệm dùng Clopidogrel ở bệnh nhân suy gan vừa và nhẹ, vốn là những người có thể tạng dễ chảy máu.
– Phụ nữ có thai và cho con bú:
Không thích hợp sử dụng cho đối tượng này như một biện pháp phòng ngừa.
Clopidogrel làm tăng nguy cơ chảy máu, có thể nghiêm trọng hoặc đe dọa tính mạng. Hãy thông báo cho Bác sĩ nếu bạn bị chảy máu không ngừng, có máu trong nước tiểu, phân đen hoặc có máu, hoặc ho ra máu hoặc nôn mửa, chảy máu cam, da nhợt nhạt, dễ bầm tím, có đốm tím dưới da hoặc trong miệng của bạn; vàng da (vàng da hoặc mắt của bạn); nhịp tim nhanh, khó thở; nhức đầu, sốt, suy nhược, cảm thấy mệt mỏi; ít hoặc không đi tiểu; một cơn động kinh; lượng đường trong máu thấp – nhức đầu, đổ mồ hôi, khó chịu, chóng mặt, nhịp tim nhanh và cảm thấy lo lắng hoặc run rẩy; hoặc dấu hiệu của cục máu đông – đột ngột tê hoặc yếu, lú lẫn, các vấn đề về thị lực hoặc lời nói.
Các thuốc có liên quan đến nguy cơ chảy máu: tăng nguy cơ chảy máu khi kết hợp với Clopidogrel như: Thuốc kháng đông đường uống, Thuốc ức chế thụ thể glycoprotein IIa/IIIb, Aspirin, Heparin, Thuốc tiêu sợi huyết, Thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs),….
Các thuốc ức chế men CYP2C19 kết hợp với Clopidogrel có thể làm giảm hiệu quả điều trị: Omeprazol và Esomeprazol, Fluvoxamine, Fluoxetine, Moclobemide, Voriconazole, Fluconazole, Ticlopidine, Carbamazepine, Efavirenz.
Clopidogrel cho thấy làm tăng tác hại của thuốc Repaglinide, do ức chế CYP2C8 bởi các chất chuyển hóa glucoronide của Clopidogrel làm tăng nồng độ Repaglinide trong huyết tương.
Tương tác thuốc có thể thay đổi cách thức hoạt động của Clopidogrel hoặc làm tăng nguy cơ các tác dụng phụ nghiêm trọng. Do vậy, người bệnh cần thông báo cho Bác sĩ các thuốc hiện tại đang sử dụng để Bác sĩ hoặc Dược sĩ tư vấn cụ thể. Tuyệt đối không được tự ý bắt đầu, ngừng hoặc thay đổi liều lượng của bất kỳ loại thuốc nào mà không có chỉ định từ bác sĩ.
– Mẫn cảm với hoạt chất chính hoặc với bất kỳ thành phần nào của thuốc.
– Đang chảy máu bệnh lý như loét tiêu hóa hoặc xuất huyết nội sọ.
– Suy gan nặng.
Để biết thêm thông tin, quý khách vui lòng đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh để được tư vấn trực tiếp.
DS.Hoàng Thị Thùy Dung
Tài liệu tham khảo: Hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất, drugs.com.
Colchicin – những lưu ý khi sử dụng trong điều trị gout.
Colchicin là alcaloid có nguồn gốc thực vật, chiết xuất từ các loài thực vật Colchium autumnale ( tỏi độc, bả chó, thu thủy tiên) và Gloriosa superba ( ngọt nghẹo).

Từ lâu Colchicin được dùng trong điều trị đợt gout cấp nhờ đặc tính kháng viêm của thuốc do ức chế sự di chuyển của bạch cầu, ức chế ứng động hóa học, chuyển hóa và chức năng của bạch cầu đa nhân nên giảm các phản ứng viêm. Tuy nhiên Colchicin có nhược điểm là khoảng trị liệu hẹp nếu không sử dụng đúng cách thì colchicin lại là loại thuốc có nguy cơ cao do có độc tính nghiêm trọng.
Colchicin được chỉ định dùng trong vòng 36 giờ từ lúc khởi phát cơn gout cấp ( tốt nhất trong vòng 12 hoặc 24 giờ).
– Ở người suy thận nặng ( độ thanh thải creatinin < 30ml/ phút )
– Suy gan nặng.
Nguồn: Dược thư 2018 – Bản tin cảnh giác dược

Ngày 24/5/2022, Uỷ ban Châu Âu đã có quyết định pháp lý cuối cùng về việc đình chỉ lưu hành dịch truền hydroxyethyl starch (HES) tại thị trường Châu Âu. Cơ quan này cũng đề xuất trong trường hợp vì lý do sức khỏe cộng đồng, từng quốc gia thành viên tại liên minh Châu Âu có thể trì hoãn việc đình chỉ lưu hành các chế phẩm chứa HES nhưng không quá 18 tháng kể từ sau thông báo của Ủy ban Châu Âu và trong thời gian đó cần đảm bảo áp dụng các biện pháp giảm thiểu nguy cơ với dịch truyền HES còn trên thị trường.
Sau biện pháp quản lý của EMA, Cơ quan quản lý Dược phẩm một số nước tại Châu Âu như Anh và Pháp đã đưa thông tin liên quan đến quyết định của EMA. Trong đó, Cơ quan quản lý Dược phẩm Anh đề cập hiện không còn chế phẩm chứa HES lưu hành tại nước này. Hiện tại, Cơ quan quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chưa có động thái quản lý mới. Thông tin cảnh báo gần nhất được FDA đưa ra vào tháng 7/2021 [4]. Cơ quan này thông báo đã hoàn thành việc đánh giá dữ liệu và thông tin về độ an toàn của các chế phẩm chứa HES. Kết quả cho thấy các nguy cơ nghiêm trọng liên quan đến việc sử dụng các chế phẩm HES, gồm có:
FDA yêu cầu thay đổi thông tin trong mục “cảnh báo được đóng khung” để làm nổi bật nguy cơ gây tử vong, tổn thương thận và chảy máu kéo dài, đồng thời đi kèm khuyến cáo không nên sử dụng các sản phẩm chứa HES trừ khi không có phương pháp điều trị thay thế thích hợp.
Các chế phẩm chứa HES được chỉ định trong trường hợp giảm thể tích tuần hoàn do mất máu cấp tính khi việc sử dụng dịch truyền đơn thuần không mang lại hiệu quả đầy đủ. Theo Hướng dẫn điều trị sốt xuất huyết của Tổ chức y tế thế giới (WHO) (2009) có thể sử dụng các dịch truyền cao phân tử chứa gelatin, dextran hoặc starch. Hướng dẫn dự phòng và kiểm soát sốt xuất huyết của WHO khu vực Đông Nam Á (2011) đưa ra một số nguyên tắc chung với truyền dịch trong sốt xuất huyết như sau:
– Nên sử dụng dịch truyền tinh thể đẳng trương trong suốt giai đoạn nặng của bệnh, trừ trẻ nhỏ <6 tháng tuổi có thể sử dụng natri clorid 0,45%.
– Có thể sử dụng dịch keo có áp suất thẩm thấu cao (>300 mOsm/l) như dextra 40 và starch ở bệnh nhân bị thoát huyết tương nặng và bệnh nhân sử dụng dịch truyền tinh thể đơn độc không có hiệu quả đầy đủ. Các dung dịch keo áp suất thẩm thấu tương đương như huyết tương và dịch thay thế huyết tương có thể không hiệu quả.
– Bổ sung dịch truyền với thể tích cao hơn 5% (tính lượng mất nước) để duy trì thể tích và tuần hoàn nội mạch.
– Thời gian điều trị bằng dịch truyền tĩnh mạch không quá 24-48 giờ đối với bệnh nhân bị sốc. Thời gian truyền dịch cho bệnh nhân không bị sốc có thể kéo dài từ 60-72 giờ.
– Ở bệnh nhân béo phì, cần áp dụng cân nặng lý tưởng để tính toán thể tích dịch truyền.
Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị sốt xuất huyết Dengue (2019) của Bộ Y tế Việt Nam cũng khuyến cáo sử dụng các dung dịch cao phân tử như dextran 40 hoặc 70, hydroxyethyl starch (HES 200.000 dalton) trong điều trị sốt xuất huyết nặng.
Dược sĩ
ĐINH KHẮC THÀNH ĐÔ
Nguồn: Cảnh giác Dược
Cảnh báo này đã được đưa ra từ tháng 10/2020.
Cập nhật tháng 9/2022: Bổ sung danh mục 2 thuốc NSAID không được FDA cấp phép bao gồm salsalate và cholin magie trisalicylate
FDA cảnh báo rằng việc sử dụng các thuốc chống viêm nonsteroid cho phụ nữ mang thai từ 20 tuần tuổi có thể dẫn tới các vấn đề trên thận hiếm gặp nhưng nghiêm trọng cho thai nhi. Tình trạng này có thể gây ra thiểu ối và các biến chứng sau đó. Các NSAID là thuốc được sử dụng phổ biến để giảm đau và hạ sốt. Các thuốc này bao gồm aspirin, ibuprofen, naproxen, diclofenac và celecoxib. Ở phụ nữ mang thai từ 20 tuần trở lên, nước ối chủ yếu do thận của thai nhi tạo ra, do vậy các vấn đề trên thận có thê làm giảm lượng nước ối. Nước ối tạo ra lớp đệm bảo vệ và giúp phổi, hệ tiêu hóa và cơ của thai nhi phát triển.

Mặc dù vấn đề an toàn thuốc này đã được nhiều chuyên khoa biết đến, FDA muốn truyền thông các khuyến cáo rộng rãi hơn để giáo dục cho các nhân viên y tế khác và phụ nữ mang thai. Thông tin an toàn này liên quan đến tất cả các thuốc NSAID kê đơn và không kê đơn (OTC).
Đối với NSAID cần kê đơn trước khi sử dụng, FDA yêu cầu thay đổi thông tin kê đơn để mô tả các vấn đề trên thận của thai nhi có thể dẫn tới thiểu ối. FDA khuyến cáo tránh sử dụng NSAIDS ở phụ nữ mang thai từ 20 trở lên thay vì 30 tuần như trong tờ thông tin sản phẩm hiện tại. Từ khoảng 30 tuần tuổi trở đi, NSAID có thể gây ra vấn đề trên tim ở thai nhi. Trong trường hợp cần sử dụng NSAID ở phụ nữ mang thai từ 20-30 tuần, cần sử dụng thuốc với liều thấp nhất có hiệu quả và trong thời gian ngắn nhất có thể. Thông tin kê đơn cũng được thay đổi để bổ sung việc cân nhắc siêu âm theo dõi nước ối nếu sử dụng NSAID dài hơn 48 giờ.
FDA cũng cập nhật nhãn của các thuốc NSAID không kê đơn sử dụng ở người lớn. Hiện tại, nhãn của các thuốc này đã cảnh báo tránh sử dụng NSAID trong 3 tháng cuối thai kỳ vì có thể gây ra các vấn đề trên thai nhi hoặc các biến chứng trong quá trình chuyển dạ. Nhãn các thuốc đã khuyến cáo phụ nữ mang thai và phụ nữ cho con bú cần hỏi ý kiến nhân viên y tế trước khi sử dụng thuốc.
Khuyến cáo này không bao gồm aspirin liều thấp 81 mg được chỉ định trong một số tình trạng của phụ nữ mang thai ở mọi thời điểm của thai kỳ dưới sự chỉ định của bác sĩ điều trị.
FDA khuyến cáo nhân viên y tế nên hạn chế kê đơn NSAID cho phụ nữ mang thai từ 20-30 tuần và tránh kê đơn sau 30 tuần. Trong trường hợp cần chỉ định, nên sử dụng thuốc với liều thấp có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất có thể. Cân nhắc siêu âm theo dõi nước ối nếu thời gian điều trị dài hơn 48 giờ và ngừng NSAID nếu phát hiện thiểu ối.
Phụ nữ mang thai từ 20 tuần trở lên không nên sử dụng NSAIDs trừ trường hợp đặc biệt được bác sĩ khuyến cáo vì các loại thuốc này có thể gây ra hại cho thai nhi. Trao đổi với bác sĩ điều trị về nguy cơ và lợi ích của các thuốc này trước khi sử dụng, đặc biệt từ tuần 20 trở lên. Vì nhiều loại thuốc không cần kê đơn có chứa NSAID, cần đọc kỹ nhãn thuốc để biết chế phẩm đó có chứa NSAID hay không. Nếu không chắc chắn, hãy nhờ nhân viên y tế giúp đỡ.
Các loại thuốc khác như paracetamol đều có sẵn để hạ sốt và giảm đau trong thời kỳ mang thai. Trao đổi với dược sĩ hoặc bác sĩ để được hỗ trợ lựa chọn điều trị tốt nhất.
Các thuốc NSAID được FDA cấp phép lưu hành trên thị trường gồm có: aspirin, celecoxib, diclofenac, diflunisal, etodolac, fenoprofen, flurbiprofen, ibuprofen, indomethacin, ketoprofen, meclofenamate, mefenamic acid, meloxicam, nabumetone, naproxen, oxaprozin, piroxicam, sulindac, tolmetin.
Các thuốc NSAID không được FDA cấp phép bao gồm salsalate và cholin magie trisalicylate.
Theo dõi Website:https://benhvienlevanthinh.vn để nắm thêm nhiều thông tin về y tế nhằm bảo vệ sức khỏe cho bản thân và những người thân yêu trong gia đình.
Dược sĩ
Trần Thị Diễm Trang
Nguồn: Cảnh giác Dược