BS_LIEU-1200x900.jpg

14 Tháng Tư, 2023 Tin TứcTruyền Thông
Võng mạc bình thường – võng mạc đái tháo đường giai đoạn vừa – võng mạc đái tháo đường giai đoạn nặng

Bệnh lý võng mạc đái tháo đường là một trong những biến chứng thường gặp của bệnh đái tháo đường, có thể gặp ở 10% bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường và lên đến 90% ở những bệnh nhân đái tháo đường trên 30 năm.

Hậu quả thường gặp nhất của bệnh lý võng mạc đái tháo đường là xuất huyết võng mạc (XHVM). Đây là biến chứng rất nặng nề, có thể gây giảm thị lực thậm chí mù lòa. Tuy nhiên, đa số bệnh nhân đái tháo đường ít quan tâm, không tầm soát khám mắt định kỳ, vì vậy bệnh thường bị bỏ qua hoặc phát hiện khi đã tiến triển nặng.

Xuất huyết võng mạc có thể gây mù lòa

BS. CK2. Huỳnh Thị Bích Liễu, Phó Trưởng Khoa Mắt Bệnh viện Lê Văn Thịnh, TP.Thủ Đức (TP.HCM) cho biết, đa số bệnh nhân tiểu đường ít quan tâm thăm khám mắt, thường có vấn đề về mắt như đau nhức, nhìn mờ… mới đến khám, nên bỏ qua thời gian vàng trong điều trị bệnh lý võng mạc đái tháo đường. Như trường hợp của bệnh nhân Lê Văn T., Tp. Thủ Đức, bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường nhiều năm, gần đây mắt có triệu chứng nhìn mờ nhiều mới đi khám. Kết quả cho thấy, mắt ông T. bị XHVM.

Khi bị XHVM, khả năng hồi phục chức năng tiếp nhận ánh sáng rất thấp. Võng mạc là một tổ chức thần kinh và việc điều trị hiện nay cho kết quả hạn chế, nếu bệnh phát hiện giai đoạn trễ, tiên lượng xấu, ảnh hưởng đến thị giác của mắt, có thể gây mù lòa.

Theo BS. Bích Liễu, XHVM là một trong những biến chứng mạch máu của bệnh lý đái tháo đường, xảy ra khi thành mạch máu võng mạc bị tổn thương do mức đường huyết cao kéo dài, gây chảy máu (xuất huyết) và thoát dịch (xuất tiết) ra ngoài võng mạc làm giảm chức năng thị lực của mắt. Tình trạng mờ mắt của bệnh nhân nhiều hay ít phụ thuộc vào số lượng và vị trí xuất huyết.

Có nhiều yếu tố nguy cơ gây bệnh XHVM, nhưng yếu tố nguy cơ quan trọng nhất, chính là thời gian mắc bệnh đái tháo đường, mức độ kiểm soát đường huyết kém. Ngoài ra, còn có yếu tố nguy cơ của bệnh lý tăng huyết áp, bệnh thận nặng, Lipid máu cao, béo phì, hút thuốc lá, phẫu thuật đục thuỷ tinh thể, thiếu máu…

BS. CK2. Huỳnh Thị Bích Liễu đang kiểm tra mắt cho bệnh nhân tại BV Lê Văn Thịnh, TP. Thủ Đức

Khám tầm soát mắt để phát hiện bệnh sớm

Các triệu chứng để nhận biết bệnh nhân bị XHVM, bao gồm: mắt nhìn mờ hoặc đột ngột mất thị lực, ruồi bay, thấy mạng nhện hoặc thấy màu đỏ trong tầm nhìn, nhìn thấy sương mù hoặc bóng tối, ánh sáng lóe lên nhanh chóng trong tầm nhìn ngoại vi, tầm nhìn bị bóp méo, giai đoạn muộn bệnh có thể tiến triển thành glôcôm (cườm nước) gây đau nhức mắt – đỏ mắt. Ngoài ra một số bệnh nhân còn cảm giác đau đầu.

Theo BS.CK2. Huỳnh Thị Bích Liễu, hiện nay khoa học tiến bộ, có nhiều trang thiết bị để chẩn đoán XHVM, bao gồm: chụp ảnh đáy mắt: ghi lại diễn tiến và xác định chi tiết độ nặng của bệnh; chụp cắt lớp võng mạc (OCT) – là phương tiện hữu hiệu nhất xác định vị trí và độ nặng của phù võng mạc, đặc biệt trong đánh giá phù hoàng điểm đái tháo đường; chụp mạch huỳnh quang (Fluorescein angiography – FA), để đánh giá vùng võng mạc thiếu máu, xác định tân mạch võng mạc, vi phình mạch hoặc tình trạng thiếu máu hoàng điểm trong phù hoàng điểm đái tháo đường.

Kiểm tra chức năng thị lực của mắt như bệnh nhân có nhìn rõ không, kiểm tra thị trường để phát hiện trong tầm nhìn thấy có dấu hiệu bất thường hay không?

Phòng bệnh là cách tốt nhất bảo vệ mắt

BS. CK2. Huỳnh Thị Bích Liễu lưu ý, dù y học có tiến bộ, nhưng cách tốt nhất để bảo vệ mắt, chính là phòng bệnh. Đối với bệnh nhân bị đái tháo đường nên kiểm soát đường huyết tốt, nên đi khám mắt và tầm soát mắt định kỳ hoặc theo chỉ định của bác sĩ. Không tự ý, mua hoặc sử dùng các loài thảo dược, các loại thuốc quảng cáo trên mạng xã hội, chưa qua kiểm chứng, không rõ nguồn góc, chưa được Bộ y tế cấp phép lưu hành… Ngay cả các loại thực phẩm chức năng bổ mắt, cần có chỉ định của bác sĩ. “Thực phẩm chức năng không phải thực phẩm an toàn, có dị ứng cũng như biến chứng nguy hiểm nếu uống sai liều lượng, hoặc uống thời gian kéo dài…”, BS. Liễu nhấn mạnh.

Khi đã mắc bệnh đái tháo đường, cần được kiểm tra võng mạc ít nhất mỗi năm một lần với bác sĩ chuyên khoa mắt. Khi có vấn đề về thị lực như nhìn mờ, đỏ mắt, cảm thấy đau nhức mắt cần đến bác sĩ chuyên khoa mắt để thăm khám càng sớm càng tốt. Hãy chú ý đến những thay đổi về tầm nhìn. Liên hệ với bác sĩ mắt của bạn ngay lập tức nếu tầm nhìn của bạn đột nhiên thay đổi hoặc trở nên mờ, đốm hoặc mờ.

Đối với người bệnh có tiền sử huyết áp, cần kiểm tra đo huyết áp thường xuyên, và kiểm soát tốt huyết áp. Có chế độ ăn giảm muối, khẩu phần ăn nhiều rau xanh, tập thể dục 30 phút mỗi ngày với các bài tập vừa sức như đi bộ, tập yoga,..

Nếu bạn hút thuốc hoặc sử dụng các loại thuốc lá khác, hãy nhờ bác sĩ giúp bạn bỏ thuốc lá. Hút thuốc làm tăng nguy cơ mắc các biến chứng tiểu đường khác nhau, bao gồm cả bệnh lý võng mạc tiểu đường.

Đối với học sinh và người làm văn phòng, ngồi học hay làm việc cần có tư thế ngồi đúng cách, có đủ ánh sáng, hạn chế sử dụng các thiết bị điện tử như điện thoại, máy tính,… để tránh bị cận thị hoặc hạn chế tình trạng tăng độ cận quá nhanh.

Nguồn Hồng Dung: khoahocphothong.com.vn


chuyendoisokchilacongnghe-1280x645-16432549784001082528348-1200x605.jpg

10 Tháng Tư, 2023 Tin Tức

Những khuyến cáo mới trong bản cập nhật lần này bao gồm: xây dựng mạng lưới cộng tác viên công nghệ thông tin trong toàn bệnh viện, phấn đấu đạt tối thiểu ở mức 6 về nhóm tiêu chí hạ tầng công nghệ thông tin theo Thông tư số 54/2017/TT-BYT, quy trình để triển khai phần mềm hiệu quả, xây dựng nền tảng dữ liệu dùng chung của bệnh viện và liên thông với các nền tảng dùng chung của các cơ quan quản lý nhà nước theo quy định,…

Dưới đây là toàn văn nội dung “Khuyến cáo đẩy mạnh hoạt động chuyển đổi số hướng đến xây dựng bệnh viện thông minh”:

  1. Phổ biến và quán triệt đến từng viên chức và người lao động trong bệnh viện để có nhận thức đúng về ý nghĩa và tầm quan trọng của hoạt động chuyển đổi số. Đẩy mạnh hoạt động chuyển đổi số của bệnh viện nhằm hướng đến mục tiêu: (1) Góp phần cải tiến chất lượng phục vụ người bệnh; (2) Tạo dựng môi trường làm việc thuận lợi cho nhân viên; (3) Cải cách thủ tục hành chính và nâng cao năng lực quản lý bệnh viện; (4) Sử dụng và đóng góp nguồn dữ liệu lớn của ngành y tế thành phố trong công tác quản lý, điều phối và dự báo.

  2. Chuyển đổi số phải được xem là một trong những hoạt động trọng tâm trong kế hoạch hoạt động hằng năm của bệnh viện, do chính Giám đốc bệnh viện trực tiếp chỉ đạo thực hiện. Kế hoạch chuyển đổi số của bệnh viện phải bao gồm các nội dung và giải pháp cụ thể về củng cố nguồn nhân lực chuyên trách công tác chuyển đổi số và xây dựng mạng lưới cộng tác viên công nghệ thông tin (CNTT) trong toàn bệnh viện, về đầu tư cho hệ thống hạ tầng CNTT, về xây dựng nền tảng số dùng chung, và đảm bảo an toàn hệ thống thông tin.

  3. Ưu tiên phân bổ nguồn lực để tuyển dụng bổ sung nhân lực cho phòng CNTT, quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân viên chuyên trách CNTT được học tập nâng cao trình độ. Đồng thời, xây dựng và phát triển mạng lưới cộng tác viên CNTT với sự tham gia của các nhân viên thuộc các khoa, phòng trong toàn bệnh viện. Phòng CNTT chịu trách nhiệm tập huấn cho mạng lưới cộng tác viên CNTT các kỹ năng cơ bản về sử dụng các phần mềm ứng dụng, về xử lý các tình huống, sự cố hay gặp của hệ thống CNTT. Các cộng tác viên CNTT chịu trách nhiệm hướng dẫn lại cho nhân viên của các khoa, phòng và trực tiếp giải quyết các vấn đề thường gặp trong quá trình triển khai và sử dụng các phần mềm ứng dụng.

  4. Ưu tiên phân bổ nguồn lực để củng cố và phát triển hạ tầng CNTT của bệnh viện. Cần tận dụng hạ tầng CNTT sẵn có để tránh lãng phí, đầu tư bổ sung thêm các thành phần cần thiết có chọn lọc đảm bảo vận hành hệ thống với thời gian sử dụng ít nhất là 5 năm. Phấn đấu đạt tối thiểu ở mức 6 về nhóm tiêu chí hạ tầng theo Thông tư số 54/2017/TT-BYT ngày 29/12/2017 của Bộ Y tế về ban hành bộ tiêu chí ứng dụng CNTT tại các bệnh viện.

  5. Củng cố và nâng cấp trung tâm dữ liệu (Data Center – DC) của bệnh viện (chọn địa điểm phù hợp, đảm bảo các điều kiện kỹ thuật, điều kiện về môi trường…). Trung tâm dữ liệu phải đáp ứng tiêu chí số 5 thuộc nhóm tiêu chí hạ tầng tại Thông tư số 54/2017/TT-BYT ngày 29/12/2017 của Bộ Y tế về ban hành bộ tiêu chí ứng dụng CNTT tại các bệnh viện (bao gồm: thiết bị phòng cháy chữa cháy, thiết bị kiểm soát người ra vào, nhiệt độ,…). Lưu ý phải có giải pháp hệ thống dự phòng (Disaster Recovery – DR) để đảm bảo bệnh viện vẫn hoạt động khi gặp sự cố. Trường hợp bệnh viện không đủ nguồn lực đầu tư trung tâm dữ liệu, nghiên cứu phương án thuê dịch vụ đảm bảo đúng quy định tại Nghị định số 73/2019/NĐ-CP ngày 05/9/2019 của Chính Phủ về quy định quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước.

  6. Ưu tiên phân bổ nguồn lực để triển khai có hiệu quả các phần mềm ứng dụng không thể thiếu trong hoạt động của bệnh viện và các phần mềm mới đối với các vấn đề phổ biến, đòi hỏi sự tham gia của nhiều khoa phòng, qua nhiều bước, tiêu tốn nhiều giấy tờ, công sức và thời gian. Tương ứng với mỗi phần mềm, lãnh đạo bệnh viện cần thành lập tổ công tác chuyên trách để triển khai phần mềm đó. Mỗi tổ công tác bao gồm: một thành viên của Ban giám đốc trực tiếp chỉ đạo, một hoặc nhiều chuyên gia CNTT, các cộng tác viên CNTT của các khoa phòng có liên quan. Tổ công tác xây dựng quy trình thực hiện phần mềm, mỗi bước của quy trình cần quy định rõ trách nhiệm của các khoa phòng có liên quan. Giám đốc bệnh viện ban hành quy định nội bộ về việc triển khai phần mềm, có phân công giám sát, định kỳ sơ kết đánh giá, có khen thưởng và chế tài.

  7. Triển khai đầy đủ các phần mềm ứng dụng không thể thiếu đối với hoạt động của một bệnh viện (HIS, LIS, RIS/PACs, EMR,….), phấn đấu đạt tối thiểu ở mức 6 tại phụ lục II của Thông tư số 54/2017/TT-BYT ngày 29/12/2017 của Bộ Y tế về ban hành bộ tiêu chí ứng dụng CNTT tại các bệnh viện. Việc triển khai các phần mềm ứng dụng này phải đảm bảo kết nối liên thông trên nền tảng dữ liệu dùng chung của bệnh viện. Mặt khác, dữ liệu dùng chung của bệnh viện phải đảm bảo tính liên tục khi có sự thay đổi phần mềm và liên thông với các nền tảng dùng chung của các cơ quan quản lý nhà nước theo quy định, bao gồm: (a) Giấy khám sức khỏe lái xe, giấy chứng sinh, giấy báo tử, khám chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) sử dụng thẻ căn cước công dân(Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030); (b) Đơn thuốc điện tử (Thông tư số 27/2021/TT-BYT ngày 20/12/2021 của Bộ Y tế quy định về kê đơn thuốc bằng hình thức điện tử); (c) Hồ sơ sức khỏe điện tử, quản lý tiêm chủng, hỗ trợ tư vấn khám chữa bệnh từ xa ( Quyết định số 2955/QĐ-BYT ngày 28/10/2022 của Bộ Y tế về phê duyệt Kế hoạch thúc đẩy  phát triển và sử  dụng các nền tảng số y tế thực hiện  Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030); (d) Chuẩn và định dạng dữ liệu đầu ra phục vụ việc quản lý, giám định, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT (Quyết định số 130/QĐ-BYT ngày 18/01/2023 của Bộ Y tế về quy định chuẩn và định dạng dữ liệu đầu ra phục vụ việc quản lý, giám định, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh và giải quyết các chế độ liên quan); (e) Nền tảng dữ liệu dùng chung của Sở Y tế.

  8. Đảm bảo an toàn thông tin khi triển khai các phần mềm ứng dụng của bệnh viện theo quy định (Nghị định số 85/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính Phủ về bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ; Thông tư số 53/2014/TT-BYT ngày 29/12/2014 của Bộ Y tế về quy định điều kiện hoạt động y tế trên môi trường mạng; Thông tư số 12/2022/TT-BTTTT ngày 12/8/2022 của Bộ Thông tin và Truyền thông về hướng dẫn Nghị định số 85/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính Phủ về bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp). Phải có giải pháp phòng chống sự cố gây mất dữ liệu và thông tin của bệnh viện, xây dựng phương án dự phòng và tổ chức diễn tập trong trường hợp xảy ra sự cố do nhiều nguyên nhân khác nhau (thiên tai, hỏa hoạn, lũ lụt,…) hoặc do sự cố hệ thống không thể khắc phục được nhằm hạn chế tối đa những rủi ro có thể xảy ra gây ảnh hưởng đến hoạt động khám chữa bệnh.

  9. Xây dựng cổng thông tin bệnh viện có khả năng giao tiếp hai chiều với người bệnh, bao gồm: đăng ký khám bệnh từ xa qua các phương tiện phổ biến như điện thoại di động, tổng đài điện thoại, cổng thông tin đặt hẹn; cung cấp thông tin cho người bệnh qua thư điện tử, tin nhắn,…; có thể tra cứu thông tin y tế trực tuyến, thông tin chi tiết về các dịch vụ  khám chữa bệnh, tư vấn từ xa; nhắc người bệnh tái khám, dùng thuốc, tiêm chủng lần tiếp theo, thanh toán không dùng tiền mặt… Tăng cường ứng dụng các thuật toán về máy học (machine learning) sử dụng nguồn dữ liệu lớn hiện có tại bệnh viện vào việc xây dựng các tiện ích cho người bệnh như: dự báo thời gian chờ khám, chờ xét nghiệm, chờ chụp X-quang, CT-scan, MRI, siêu âm,… và thời gian nằm viện. Tăng cường ứng dụng CNTT trong khảo sát hài lòng, không hài lòng và trải nghiệm của người bệnh khi đến khám chữa bệnh tại bệnh viện.

  10. Tăng cường ứng dụng CNT T trong hoạt động chuyên môn  nhằm hạn chế sai sót bằng các phần mềm  ứng dụng như: Hệ thống nhắc liều, tự động tính liều, cảnh báo tiền sử  dị ứng thuốc, tương tác thuốc, trùng nhóm  điều trị theo mã ATC ( Anatomical Therapeutic Chemical Classification System ); Chỉ định  điều trị phù hợp chẩn đoán  theo phác đồ; Tra cứu thông tin và lịch sử điều trị của người bệnh; Tra cứu phác đồ điều trị của bệnh viện và kho dữ liệu phác đồ điều trị của Sở Y tế,… Triển khai các ứng dụng giúp xác định đúng người bệnh, đúng các dịch vụ kỹ thuật tránh  nhầm lẫn trong phẫu thuật, truyền máu, thực hiện các y lệnh về thuốc, cận lâm sàng, kết quả cận lâm sàng,… bằng cách sử dụng mã vạch hay dùng công nghệ RFID ( Radio Frequency Identificatio n). Khuyến khích triển khai ứng dụng  công nghệ số trong hoạt động chuyên môn như: Ứng dụng Robot trong phẫu thuật; Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong chẩn đoán hình ảnh, trong điều trị đột quỵ, điều trị ung thư,… Kết nối giữa các bác sĩ tuyến y tế cơ sở với các bác sĩ chuyên khoa của các bệnh viện để hội chẩn, tư vấn chẩn đoán và điều trị bệnh từ xa (telemedicine); Đào tạo liên tục từ xa cho bệnh viện tuyến trước.

  11. Triển khai hiệu quả  “Văn phòng số” thay thế cho các thủ tục hành chính  nội bộ của bệnh viện bao gồm: Hệ thống theo dõi  văn bản; Hệ thống thông tin điều hành tác nghiệp; Hệ thống theo dõi và nhắc việc; Hệ thống thông tin  nội bộ qua mạng CNTT cho  nhân viên  bệnh viện  thay cho việc phát hành  văn bản thông báo trong bệnh viện; Triển khai tin nhắn cho nhân viên bệnh viện ( SMS, ứng dụng di động,… ) trong việc nhắc lịch họp, lịch khám bệnh, lịch hội chẩn, lịch phẫu thuật, nhắc điều dưỡng thực hiện y lệnh của bác sĩ;…

  12. Tích hợp chữ ký điện tử hoặc  chữ ký số vào các phần mềm ứng dụng của bệnh viện, đồng thời phải ban hành quy chế sử dụng chữ ký điện tử và chữ ký số theo đúng quy định ( Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27/9/2018 của Chính Phủ về quy định chi tiết thi hành luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số). Việc lựa chọn giải pháp chữ ký số ( USB token, Sim PKI, HSM,… ) là tùy thuộc vào mục đích sử dụng, tiện ích mang lại và khả năng chi trả của bệnh viện.

  13. Triển khai bệnh án điện tử ( Electronic Medical Record – EMR ) phải trên cơ sở đã hoàn chỉnh hệ thống thông tin quản lý bệnh viện ( HIS ) và trục dữ liệu thông tin tích hợp của bệnh viện, cùng với hoàn thiện cơ sở dữ liệu phục vụ bệnh án  điện tử ( Clinical Data Repository – CDR ) , và các hệ thống thông  tin hỗ trợ chuyên môn khác (như LIS, RIS/PACs, …). Để việc lưu trữ hồ sơ bệnh án điện tử thay cho lưu trữ hồ sơ bệnh án giấy; lưu trữ và truyền tải hình ảnh y tế thay cho việc in phim và lưu trữ thông tin xét nghiệm thay cho việc in giấy trở thành hiện thực thì giám đốc bệnh viện phải có văn bản thông báo với Cục Công nghệ thông tin  –  Bộ Y tế để đăng tải thông tin trên Cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và Trang thông tin điện tử của  Cục Công nghệ thông tin theo  đúng hướng  dẫn tại Thông tư số 46/2018/TT-BYT ngày 28/12/2018  của Bộ Y tế về quy  định  hồ sơ bệnh án điện tử. Trường hợp bệnh viện đã triển khai  thành công bệnh án điện tử, khuyến  khích  sử dụng bộ dữ  liệu thuật ngữ lâm sàng ( Snomed CT ) giúp liên thông hồ sơ bệnh án điện tử trong nước và trên thế giới.

  14. Vận dụng khả năng dự báo và giám sát của hệ thống thông tin trong hoạt động  quản lý bệnh viện, bao gồm: xác định phân bố mô hình bệnh tật theo thời  gian  trong  năm  giúp lãnh đạo bệnh viện chủ động phân bổ nguồn lực phục vụ  người bệnh; hỗ t rợ giám sát các hoạt động  quản lý  chất lượng bệnh viện như: giám sát kê đơn, giám sát  tuân thủ phác đồ, giám sát  thời gian chờ tại các khâu  trong quy trình khám chữa bệnh, giám sát tình hình quá tải, ùn ứ người bệnh tại các phòng khám,… giúp phát hiện sai sót và chủ động can thiệp sớm nhằm hạn chế thấp nhất tai biến và than phiền của người bệnh.

  15. Khuyến khích các đơn vị tham quan, học tập, chia sẻ  kinh nghiệm lẫn nhau khi thực hiện  chuyển đổi số, nhất là các hoạt động hướng đến  làm hài lòng người bệnh. Khi gặp những khó khăn trong triển khai chuyển đổi số theo các khuyến cáo trên đây, đơn vị cần chủ động trao đổi với Ban công nghệ thông tin của Sở Y tế để được hỗ trợ.

Nguồn: medinet.hochiminhcity.gov.vn

 


TBYT01-1200x766.jpg

3 Tháng Tư, 2023 Tin Tức
Cơ sở vật chất xuống cấp, diện tích chật hẹp phần nào ảnh hưởng đến công tác khám chữa bệnh tại Bệnh viện TP Thủ Đức

(Thanhuytphcm.vn) – Thời gian qua, ngành y tế cả nước phải đối mặt với những khó khăn về thiếu trang thiết bị, hóa chất, vật tư, sinh phẩm y tế để phục vụ công tác khám chữa bệnh, chủ yếu là do vướng mắc từ các văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có Nghị định số 98/2021/NĐ-CP và Thông tư số 14/2020/TT-BYT. Trước thực trạng đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 07 ngày 03/3/2023 và Nghị quyết số 30 ngày 04/3/2023 nhằm tháo gỡ được những vấn đề mang tính cấp bách hiện nay đối với ngành y tế.

Khó khăn nhiều mặt

Bệnh viện TP Thủ Đức hiện tiếp nhận khám và điều trị 4.000-5.000 lượt bệnh nhân/mỗi ngày. Tuy nhiên, do cơ sở hạ tầng của Bệnh viện đã và đang xuống cấp, diện tích chật hẹp chưa đáp ứng được nhu cầu về khám chữa bệnh ngày càng cao của người dân trên địa bàn.

Năm 2022, Bệnh viện TP Thủ Đức triển khai 6 gói thầu theo hình thức mua sắm trực tiếp, đấu thầu rộng rãi đối với vật nhóm vật tư y tế, hóa chất sinh phẩm và 6 gói thầu mua sắm thuốc theo hình thức đấu thầu rộng rãi, thế nhưng cũng chỉ giải quyết tạm thời tình trạng thiếu hụt thuốc, vật tư, hóa chất sinh phẩm giai đoạn sau phòng, chống dịch Covid-19.

Đó cũng là tình trạng chung tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh. Nhiều trang thiết bị có thời hạn sử dụng trên 10 năm, đã hư hỏng một vài bộ phận nhưng chưa thể thay mới. BS.CKII Trần Văn Khanh, Giám đốc Bệnh viện cho biết: Một số thiết bị y tế cần thay thế không có nhà thầu báo giá hay báo giá không hợp lệ hoặc không đủ tối thiểu 3 báo giá, nên không xây dựng được giá gói thầu. Bên cạnh đó, các nhà thầu đã hết hạn giấy đăng ký lưu hành từ ngày 31/12/2022 cũng là một trong những trở ngại khiến nhiều bệnh viện trên địa bàn TPHCM hay cả nước rơi vào tình trạng thiếu trang thiết bị, vật tư y tế.

Tháo gỡ “nút thắt” và đề xuất kiến nghị

Việc ban hành Nghị định số 07 và Nghị quyết số 30 được cho là hết sức cần thiết, tháo gỡ khúc mắc cho các bệnh viện trong công tác đấu thầu, mua sắm thuốc, vật tư y tế, đảm bảo nhu cầu cấp thiết trong chăm sóc, điều trị bệnh nhân. TS.BS Vũ Trí Thanh, Phó Giám đốc Phụ trách quản lý điều hành Bệnh viện TP Thủ Đức chia sẻ: Nghị định số 07 và Nghị quyết số 30 ban hành đã phần nào giải quyết những khó khăn trước mắt cho bệnh viện. Cụ thể, cho phép tiếp tục thanh toán chi phí khám bệnh chữa bệnh BHYT của các dịch vụ kỹ thuật thực hiện bằng máy do nhà thầu cung cấp sau khi trúng thầu vật tư, hóa chất; thay đổi cách xác định giá gói thầu, cho phép lấy báo giá trực tiếp từ nhà phân phối đối với hàng hóa độc quyền khi xây dựng giá gói thầu; Hội đồng khoa học quyết định yêu cầu về tính năng kỹ thuật để chủ động trong việc lựa chọn vật tư, trang thiết bị phù hợp với yêu cầu chuyên môn; gia hạn hiệu lực giấy phép nhập khẩu, giấy lưu hành sản phẩm tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị trong quá trình tham gia các gói thầu tại bệnh viện…

Bên cạnh những thuận lợi thì vẫn còn những trăn trở về các văn bản hướng dẫn cụ thể tạo thuận lợi cho việc tổ chức mua sắm, đấu thầu trang thiết bị y tế phục vụ khám chữa bệnh tại các bệnh viện. Phó Giám đốc Phụ trách quản lý điều hành Bệnh viện TP Thủ Đức Vũ Trí Thanh cho biết: Hiện tại nhu cầu sửa chữa trang thiết bị của bệnh viện rất lớn. Đa số là các gói thầu dịch vụ phi tư vấn về hoạt động bảo trì, sửa chữa, thay thế linh kiện nhưng tại Nghị quyết 30 chưa chỉ rõ đối tượng áp dụng đã bao gồm dịch vụ sửa chữa, thay thế linh kiện hay không, tránh trường hợp Bệnh viện vận dụng thực hiện không đúng tinh thần của Nghị quyết.

Còn BS.CKII Trần Văn Khanh, Giám đốc Bệnh viện Lê Văn Thịnh cho rằng, cần sớm đưa những nội dung trong Nghị định và Nghị quyết thành Luật, trên cơ sở đó, định kỳ 6 tháng hay 1 năm sẽ được cập nhật để theo kịp vấn đề phát sinh khi đưa vào vận hành thực tế.

Đầu đèn phát tia X của máy chụp X-quang tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh đã cũ và cần được thay mới để tiếp tục sử dụng trong thời gian tới

Theo đó, BS.CKII Trần Văn Khanh cũng đưa ra ý kiến xoay quanh thời hạn của một số nội dung như: đấu thầu đối với thuốc và vật tư hay xây dựng khung giá dự toán. “Đối với thuốc hay vật tư, do số lượng sử dụng nhiều, chúng tôi thiết nghĩ nếu không có những trường hợp bất khả kháng xảy ra như dịch bệnh, đứt gãy nguồn cung ứng thì thời gian đấu thầu nên là 2 năm thay vì 12 tháng như trong Nghị định mới. Ngoài ra, xây dựng dự toán cho trang thiết bị, vật tư y tế phải căn cứ theo công bố giá của các địa phương trong vòng 120 ngày. Tuy nhiên, nếu trong thời gian trên vẫn chưa có đủ dữ liệu để tham khảo sẽ gây khó khăn trong tiến trình mua sắm thiết bị y tế tại bệnh viện. Do đó, chúng tôi kiến nghị cần kéo dài thời gian trên để đủ cơ sở dữ liệu tham khảo trước khi bệnh viện quyết định mua một loại hàng hóa, đảm bảo tính phù hợp và chính xác cao” – BS Khanh nêu góp ý.

Trong cuộc họp với lãnh đạo các bệnh viện tuyến Trung ương và các Vụ, Cục của Bộ Y tế, nhằm rà soát việc triển khai thực hiện Nghị định số 07/2023/NĐ-CP và Nghị quyết số 30/NQ-CP vào ngày 21/3/2023, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan cũng đề nghị các đơn vị tiếp tục rà soát các vướng mắc, khó khăn trong thực hiện Nghị định 07 và Nghị quyết 30. Bên cạnh đó, các đơn vị được phân công hoàn thiện văn bản hướng dẫn xây dựng giá gói thầu; trang đăng tin giá gói thầu; xây dựng cơ chế đảm bảo thuốc hiếm, thuốc hạn chế nguồn cung… Đây sẽ là lời giải cho những “nút thắt” của các bệnh viện, góp phần nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, chất lượng bệnh viện trong thời gian tới.

Nguồn: hcmcpv.org.vn


dgm_nttt_no-spa-forte-80mg.jpg

 

Ảnh minh họa: nguồn Internet
1. Thành phần hoạt chất

Hoạt chất chính: mỗi viên có chứa drotaverin hydrochlorid 80 mg

2. Thuốc này là thuốc gì

Nhóm dược lý trị liệu: Thuốc điều trị các rối loạn chức năng đường ruột.

Drotaverin là dẫn chất của isoquinolin, có tác động chống co thắt trực tiếp lên cơ trơn.

3. Chỉ định điều trị

No-Spa forte là thuốc chống co thắt cơ trơn, thuốc được dùng trong các trường hợp sau:

Co thắt cơ trơn trong những bệnh lý đường mật: sỏi túi mật, sỏi ống mật, viêm túi mật, viêm quanh túi mật, viêm đường mật, viêm bóng tụy.

Co thắt cơ trơn trong những bệnh lý đường niệu: sỏi thận, sỏi niệu quản, viêm bể thận, viêm bàng quang, đau do co thắt bàng quang.

Dùng điều trị hỗ trợ trong:

  • Co thắt cơ trơn hệ tiêu hoá: loét dạ dày và tá tràng, viêm dạ dày, co thắt tâm vị và môn vị, và tăng kích thích của đại tràng.
  • Các bệnh phụ khoa: đau bụng kinh.
4. Liều dùng và cách dùng
  • Đường uống
  • Liều dùng thông thường của viên nén No-Spa forte dành cho người lớn là 1-3 viên/ngày (chia làm 2-3 lần).
  • Chưa có nghiên cứu lâm sàng về việc dùng thuốc viên No-Spa cho trẻ em.
  • Nếu cần thiết sử dụng, có thể cho trẻ em trên 12 tuổi dùng thuốc với liều dùng từ 1 đến tối đa 2 viên/ngày (chia làm 1-2 lần). Bạn cần hỏi ý kiến bác sĩ hoặc dược sĩ cho chắc chắn.
  • Nếu quên uống thuốc viên nén No-Spa forte thì không nên uống liều gấp đôi để bù vào liều đã quên.

Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về việc dùng thuốc, hãy hỏi bác sĩ hoặc dược sĩ.

5. Chống chỉ định
  • Mẫn cảm với hoạt chất hoặc với bất kỳ tá dược nào của thuốc.
  • Suy gan, thận hoặc tim nặng.
  • Trẻ nhỏ cho tới 12 tuổi.
6. Tác dụng không mong muốn

Hiếm gặp: đau đầu, chóng mặt, buồn nôn và hồi hộp, mất ngủ, táo bón, hạ huyết áp có thể xảy ra. Nếu bấy kì tác dụng phụ nào tác dụng phụ nào trở nên trầm trọng, hoặc nếu bạn ghi nhận có bất kỳ tác dụng phụ nào chưa liệt kê ra trong toa thuốc này, hãy báo cho bác sĩ hoặc dược sĩ.

7. Tương tác thuốc

Khi dùng chung với levodopa, NO-SPA forte làm giảm tác động điều trị chống Parkinson của thuốc này, như làm nặng thêm sự co cứng cơ và run rẩy.

8. Dược động học

Drotaverin hấp thu nhanh và hoàn toàn sau khi dùng đường uống hay đường tiêm. Drotaverin có tỷ lệ gắn kết cao với albumin huyết tương (95-98%), gamma- và bêta-globulin. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được trong vòng 45 đến 60 phút sau khi uống. Sau khi qua vòng chuyển hóa đầu tiên, 65% liều uống drotaverin vào được hệ tuần hoàn dưới dạng không đổi. Drotaverin được chuyển hóa ở gan. Thời gian bán hủy sinh học là 8-10 giờ. Trên thực tế thuốc không còn trong cơ thể sau 72 giờ, bài xuất khoảng 50% qua nước tiểu và 30% qua phân. Thuốc được bài tiết chủ yếu dưới dạng các chuyển hóa chất; không tìm thấy dạng không đổi của thuốc trong nước tiểu.

Bệnh viện Lê Văn Thịnh với đội ngũ Y Bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, tận tâm và luôn lấy Người bệnh làm trung tâm cho mọi hoạt động, nếu Người bệnh có vấn đề về sức khỏe, hay cần biết thêm thông tin hãy đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh để được tư vấn, thăm khám và điều trị.

Dược sĩ

Trần Thị Diễm Trang

(Tài liệu tham khảo: Tờ hướng dẫn sử dụng thuốc No-Spa 80 mg)


diphereline.png

Thành phần 
  • Hoạt chất chính: Triptoreline
  • Phân loại: Hormones tuyến yên. Gonadotrophin (GnRH) và các chất tương tự
  • Hàm lượng :3,75mg
Hoạt chất chính Triptoreline trong thuốc đóng vai trò là một Decapeptide tổng hợp giống GnRH tự nhiên. Chất này có khả năng ức chế sự bài tiết hướng sinh dục, từ đó làm mất chức năng của buồng trứng ở phụ nữ và tinh hoàn ở nam giới
Theo nghiên cứu cho thấy, Triptoreline tác động trực tiếp lên các tuyến sinh dục trong cơ thể con người thông qua khả năng làm giảm sự nhạy cảm của các thụ thể ngoại biên dành cho GnRH. Bên cạnh đó, Triptoreline cũng có tác dụng tạo ra các nang noãn hoàn chỉnh, nhờ đó điều trị hiệu quả tình trạng vô sinh ở phái nữ
Ảnh minh họa _ nguồn Internet : Thuốc Diphereline 3,75mg thuộc nhóm thuốc ETC, được sử dụng để điều trị các tình trạng như ung thư tuyến tiền liệt, lạc nội mạc tử cung giai đoạn I – IV, dậy thì sớm ở cả bé trai và gái, vô sinh nữ hoặc điều trị trước phẫu thuật u xơ tử cung
1. Chỉ định
  • Ung thư tuyết tiền liệt tiến triển tại chỗ hoặc đã di căn. Hiệu quả điều trị của thuốc sẽ cao hơn nếu bệnh nhân chưa từng sử dụng bất kỳ loại hormone nào. Thuốc có thể dùng đơn lẻ hoặc kết hợp với phương pháp xạ trị
  • Điều trị tình trạng dậy thì sớm ở bé trai trước 10 tuổi và bé gái trước 8 tuổi
  • Điều trị bệnh lạc nội mạc tử cung ở nữ giới giai đoạn I – IV. Thuốcdành cho bệnh nhân lạc nội mạc tử cung không nên dùng kéo dài quá 6 tháng và chỉ nên điều trị trong 1 đợt
  • Điều trị vô sinh ở nữ giới. Có thể kết hợp thuốc cùng các hormone hướng sinh dục như hCG, FSH và hMG trong pha nhằm giúp dẫn đến rụng trứng và chuyển phôi (thụ tinh ống nghiệm)
  • Điều trị trước khi phẫu thuật u xơ tử cung, dành cho bệnh u xơ tử cung liên quan đến tình trạng thiếu máu (nồng độ hemoglobin nhỏ hơn hoặc bằng 8g / dl). Thuốc sẽ được chỉ định để làm giảm kích thước của khối u, giúp quá trình phẫu thuật nội soi hoặc phẫu thuật qua đường âm đạo trở nên dễ dàng và thuận lợi hơn. Thời gian điều trị bằng thuốc giới hạn trong 3 tháng.
2. Chống chỉ định

Người bị nhạy cảm hoặc quá mẫn với hoạt chất Triptorelin, Dextran, Poly- (d, l lactide coglycolide) hoặc bất kỳ thành phần tá dược nào khác trong thuốc

  • Người bị quá mẫn với các hormone giải phóng Gonadotrophin (GnRH) hay bất kỳ chất tương tự như GnRH khác
  • Phụ nữ đang mang thai vàngười đang nuôi con bú
3. Liều dùng – cách dùng

Ung thư tuyến tiền liệt 

Có thể lựa chọn áp dụng một trong 2 phác đồ sau :

  • Tiêm dưới da 1 mũi Diphereline 0,1mg / ngày × 7 ngày, sang ngày thứ 8 tiêm bắp một mũi Diphereline 3,75mg và nhắc lại mỗi 4 tuần
  • Tiêm bắp một mũi Diphereline 3,75mg ngay từ ban đầu mỗi 4 tuần

Dậy thì sớm 

  • Trẻ em dưới 20kg: Tiêm bắp 1/2 lọ Diphereline 3,75mg mỗi 4 tuần (38 ngày), tiêm khoảng một nửa lượng thuốc đã pha
  • Trẻ em nặng từ 20 – 30kg: Tiêm bắp 2/3 lọ Diphereline 3,75mg mỗi 4 tuần, tiêm khoảng 2/3 lượng thuốc đã pha
  • Trẻ em nặng trên 30kg: Tiêm bắp 1lọ Diphereline 3,75mg mỗi 4 tuần, tức tiêm toàn bộ lượng thuốc đã pha

Lạc nội mạc tử cung 

Bệnh nhân sẽ được tiêm bắp 1 lọ Diphereline 3,75mg mỗi 4 tuần. Mũi thứ nhất nên tiêm trong 5 ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt. Thời gian điều trị lạc nội mạc tử cung bằng thuốc Diphereline 3,75mg sẽ phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng ban đầu của bệnh cũng như những thay đổi trên lâm sàng của người bệnh trong quá trình điều trị. Theo nguyên tắc, lạc nội mạc tử cung có thể điều trị bằng thuốc Diphereline 3,75mg trong ít nhất 4 tháng và không kéo dài quá 6 tháng. Không khuyến cáo điều trị đợt 2 bằng Triptorelin hoặc chất tương tự GnRH khác

Vô sinh nữ 

Vào ngày thứ 2 của chu kỳ kinh nguyệt, bệnh nhân sẽ được tiêm bắp 1 lọ Diphereline 3,75mg. Sau khoảng 15 ngày tiêm Diphereline 3,75mg, thuốc có thể dùng phối hợp với các hormone hướng sinh dục khi đã ức chế được tuyến yên và nồng độ hormone estrogen trong máu dưới 50pg /ml

Điều trị trước khi thực hiện phẫu thuật u xơ tử cung

Người bệnh sẽ được tiêm bắp một lọ thuốc Diphereline 3,75mg nhắc lại mỗi 4 tuần

Mũi tiêm đầu cần được thực hiện trong 5 ngày đầu của chu kỳ kinh nguyệt

Thời gian điều trị không được quá 3 tháng

Chú ý : Khi tiêm dạng phóng thích chậm phải tuân thủ nghiêm ngặt theo hướng dẫn được đưa ra trong tờ hướng dẫn sử dụng. Bất kỳ trường hợp nào tiêm không hết thuốc, làm mất thuốc đã pha nhiều hơn lượng thuốc thường dính lại trong bơm tiêm phải được báo cáo.

4. Tác dụng phụ
  • Phản ứng rất thường gặp: Nóng bừng, dị cảm ở chi dưới, tăng tiết mồ hôi, suy nhược, đau lưng
  • Phản ứng thường gặp: Đau đầu, choáng váng, trầm cảm, đau cơ xương, buồn nôn, mệt mỏi hoặc mất ham muốn tình dục
  • Phản ứng ít gặp: Bệnh Gút, chán ăn, dị cảm, mất ngủ, khó thở, cao huyết áp, ù tai, táo bón, đau bụng, nôn, tiêu chảy, nổi ban hoặc ngứa
  • Phản ứng hiếm gặp: Ban xuất huyết, viêm mũi họng, đái tháo đường, suy giảm trí nhớ, lú lẫn, phản ứng phản vệ, chóng mặt, chướng bụng hoặc chảy máu cam
5. Thận trọng
  • Thận trọng khi điều trị bằng thuốc cho trẻ em < 18 tuổi và bệnh nhân bị loãng xương
  • Trong thời gian dùng thuốc, người bệnh cần tránh uống bia rượu hoặc lạm dụng các chất kích thích, bởi điều này có thể làm tăng nguy cơ gặp phải các tác dụng phụ ngoại ý
  • Tiêm thuốc theo đúng liều lượng và thời gian mà bác sĩ điều trị đưa ra
  • Tránh tiêm thuốc đã hết hạn, bột thuốc có dấu hiệu biến màu, ẩm mốc hoặc xuất hiện các bất thường khác như vẩn đục hoặc kết tủa sau khi pha dung dịch
  • Nếu thuốc đã hết hạn, người bệnh cần xử lý thuốc theo đúng yêu cầu và hướng dẫn của chuyên viên y tế
  • Chỉ nên pha dung dịch tiêm Diphereline 3,75mg ngay trước khi sử dụng
  • Nguy cơ giảm mật độ xương có thể tăng lên khi sử dụng GnRH đồng vận. Do đó, cần đặc biệt thận trọng khi sử dụng thuốc Diphereline 3,75mg cho những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ loãng xương, chẳng hạn như hút thuốc, nghiện rượu mãn tính, có tiền sử gia đình bị loãng xương, suy dinh dưỡng, đang điều trị dài ngày với các thuốc làm giảm mật độ xương như Corticoid hoặc thuốc chống co giật
  • Không sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai
  • Điều trị bằng Triptorelin có thể làm tăng nguy cơ trầm cảm nặng
  • Thận trọng khi sử dụng thuốcTriptorelin cho những người đã từng điều trị bằng thuốc chống đông máu bởi nó có thể dẫn đến nguy cơ tích tụ máu tại vị trí tiêm
6. Tương tác thuốc
  • Thuốc ảnh hưởng đến sự bài tiết Gonadotropins của cơ quan tuyến yên
  • Các sản phẩm thuốc có khả năng làm kéo dài khoảng QT
  • Các dược phẩm gây ra các điểm xoắn, chẳng hạn như nhóm IA (Disopyramide, Quinidine), nhóm III (Dofetilide, Sotalol, Ibutilide và Amiodarone)
  • Thuốc chống loạn nhịp
  • Thuốc Moxifloxacin
  • Thuốc Methadone
  • Thuốc chống loạn thần.

Bệnh viện Lê Văn Thịnh với đội ngũ Y Bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, tận tâm và luôn lấy Người bệnh làm trung tâm cho mọi hoạt động, nếu Người bệnh có vấn đề về sức khỏe, hay cần biết thêm thông tin hãy đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh để được tư vấn, thăm khám và điều trị.

Dược sĩ

Đinh Khắc Thành Đô

(Tài liệu tham khảo: Tờ hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất, Drugbank.vn)


20220620_084416_801529_Morphin-10mg-ml.max-1800x1800-1.png

31 Tháng Ba, 2023 Tin TứcTruyền Thông
Morphin 10mg/ml là thuốc giảm đau có tính gây nghiện với tác dụng chủ yếu trên ruột và hệ thần kinh trung ương thông qua thụ thể muy ở sừng sau tủy sống. Bài viết dưới đây sẽ giới thiệu đến bạn đọc một số thông tin về thuốc giảm đau Morphin 10mg/ml
Ảnh minh họa: nguồn Internet
1. Thuốc giảm đau Morphin 10mg/ml là gì?

Morphin 10mg/ml giảm đau có thành phần chính là hoạt chất Morphin hydrochloride. Đây là thuốc giảm đau có tính gây nghiện với tác dụnt g chủ yếu trên ruột và hệ thần kinh trung ương thông qua thụ thể muy ở sừng sau tủy sống. Khi đi vào cơ thể, có khoảng 1/3 Morphine liên kết với protein trong huyết tương. Morphine không tồn tại lâu ở các mô nên trong khoảng 24h sau khi dùng liều cuối cùng thì nồng độ còn rất thấp. Tuy vị trí tác dụng chủ yếu của Morphine là trên hệ thần kinh trung ương nhưng khả năng đi qua hàng rào máu não là rất thấp.

2. Tác dụng của thuốc giảm đau Morphin 10mg/ml

Morphine phát huy tác dụng chủ yếu trên hệ thần kinh trung ương thông qua thụ thể muy, bao gồm buồn ngủ, giảm đau, thay đổi tâm trạng, ức chế hô hấp, giảm nhu động dạ dày – ruột, thay đổi về nội tiết, buồn nôn, nôn. Trong đó:

  • Tác dụng giảm đau nhờ vào cơ chế giảm nhận cảm đau và tăng ngưỡng chịu đựng đau.
  • Trên hệ thần kinh trung ương với các biểu hiện như ức chế mạnh các cơ hô hấp, buồn nôn và nôn, triệu chứng về thần kinh, co đồng tử và giải phóng hormon chống bài niệu.
  • Morphine gây ức chế trung tâm hô hấp nhờ vào việc ức chế khả năng kích thích của CO2 trên trung tâm hô hấp tại hành não.
  • Một tác dụng nổi bật nhất của Morphin đối với sức khỏe tâm thần là gây sảng khoái, tuy nhiên cũng có người trở nên trầm cảmhoặc có biểu hiện ngủ gà,giảm trí nhớ, mất tập trung.
3. Chỉ định của thuốc giảm đau Morphin 10mg/ml
  • Đau sau phẫu thuật;
  • Sau chấn thương;
  • Giai đoạn cuối của bệnh do ung thư
  • Cơn đau gan,đau thận
  • Phối hợp khi gây mê và tiền mê.
4. Cách sử dụng thuốc giảm đau Morphin 10mg/ml

Ở người lớn:

  • Sử dụng ở đường tiêm dưới da hoặc tiêm bắp thường là 10mg với tần suất 4 giờ/ lần, một số trường hợp có thể dao động từ 5 – 20mg.
  • Dùng đường tiêm tĩnh mạch chậm liều khởi đầu 10 – 15mg với tốc độ phụ thuộc vào trạng thái người bệnh, thường từ 60 – 80mg/ 24 giờ.
  • Tiêm ngoài màng cứng trong phẫu thuật và sản khoa với liều từ 0,05 – 0,10mg/ kg. Với liều 10mg/ ml Morphintiêm ngoài màng cứng chỉ được dùng cho bệnh nhân ung thư đã quen thuốc do điều trị kéo dài.
  • Tiêm trong màng cứng để giảm đau trực tiếp trung ương với các trường hợp đau cấp tính dùng liều 0,02 – 0,03mg/ kg/ ngày. Với các cơn đau mạn tính dùng liều 0,015 – 0,15mg/ kg/ ngày. Tùy vào tình trạng bệnh mà có thể cân nhắc tăng liều lên gấp 10 lần.

Đối với trẻ em trên 30 tháng tuổi:

  • Dùng đường tiêm dưới da hoặc tiêm bắp với liều 0,1 – 0,2mg/ kg và tối đa 15mg; có thể tiêm lặp lại cách nhau 4 giờ. Tiêm tĩnh mạch bằng 1/2 liều tiêm bắp.
5. Chống chỉ định của thuốc Morphin 10mg/ml
  • Mẫn cảm với morphin hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc.
  • Bệnh nhân suy gan nặng, suy hô hấp.
  • Chấn thương não hoặc tăng áp lực nội sọ.
  • Triệu chứng đau bụng cấp không rõ nguyên nhân.
  • Trạng thái co giật.
  • Nhiễm độc rượu cấp hoăc mê sản rượu cấp.
  • Trẻ em dưới 30 tháng tuổi.
  • Đang sử dụng thuốc thuộc nhóm monoamoxidase (IMAO).
6. Một số lưu ý khi sử dụng thuốc Morphin 10mg/ml

Cần lưu ý không sử dụng cùng lúc Morphine với các thuốc sau:

  • Nhóm IMAO;
  • Kháng histamin H1;
  • Dẫn chất Morphine, Benzodiazepin, Barbiturat, Neuroleptic, Clonidin.

Thường gặp:

  • Toàn thân: ức chế thần kinh;
  • Tiết niệu: bí tiểu
  • Nội tiết :tăng tiết hormon bài tiết chống bài niệu, bí tiểu;
  • Tiêu hóa: buồn nôn và nôn,táo bón;
  • Mắt :co đồng tử.

Ít gặp:

  • Gan: Co thắt túi mật
  • Hô hấp: Co thắt phế quản.
  • Thần kinh: Ức chế hô hấp,bồn chồn,khó chịu,yếu cơ.
  • Tiết niệu:Co thắt bàng quang.
  • Da:Ngứa

Hiếp gặp

  • Tuần hoàn:hạ huyết áp thế đứng.
7 Phụ Nữ Mang Thai
  • Các thuốc giảm đau kiểu Morphin gây ức chế hô hấp ở trẻ sơ sinh,do thuốc qua được ngau thai và tác động vào trẻ.Thải trừ morphin ở trẻ sơ sinh rất chậm.Không được dùng morphin cho người mẹ vào 3- 4 giờ trước khi sanh.
  • Nếu mẹ bị nghiện hoặc dùng morphin kéo dài trong khi mang thai,trẻ sanh ra sẽ xuất hiện hội chứng cai nghiện như co giật,kích thích nôn hoặc thậm chí tử vong.
8 Phụ Nữ Cho Con Bú
  • Nhiều thông báo trước đây cho biết chỉ một lượng nhỏ morphin bài tiết vào sữa mẹ và còn chưa biết có ý nghĩa lâm sàng hay không.
  • Những nghiên cứu mới đây cho biết trẻ em nhận được khoảng 0,8% – 12% liều thuốc dùng cho mẹ.Do đó nên ngừng cho con bú nếu mẹ dùng morphin

Cần thận trọng khi sử dụng cho các trường hợp phụ nữ đang mang thai hoặc cho con bú.

Bệnh viện Lê Văn Thịnh với đội ngũ Y Bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, tận tâm và luôn lấy người bệnh làm trung tâm cho mọi hoạt động, nếu người bệnh có vấn đề về sức khỏe, hay cần biết thêm thông tin hãy đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh để được tư vấn, thăm khám và điều trị.

Dược sĩ

Lưu Văn Song

(Theo hướng dẫn sử dụng thuốc của Nhà sản xuất)


44.jpg

THÁNG 03′ TIẾP SỨC ĐỒNG HÀNH CÙNG NGƯỜI DÂN CÓ HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN

Thứ hai, ngày 25/03/2023, 14:00PM, tại Bệnh viên Lê Văn Thịnh, Thành phố Thủ Đức.

(BV-LVT) Hoạt động tháng cao điểm nhân kỷ niệm Ngày Công tác xã hội 25-3, Đoàn bác sĩ Bệnh viện Lê Văn Thịnh (TP Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh) cùng Công ty Cổ Phần QH Plus (Quỹ Từ thiện Vun Gốc) và Câu lạc bộ Doanh nhân Tiền Giang tại TP. Hồ Chí Minh đã phối hợp với và chính quyền địa phương huyện Gò Công Tây (tỉnh Tiền Giang) tổ chức Chương trình khám bệnh và tặng quà cho người dân có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn 2 xã Đồng Thạnh và Đồng Sơn (huyện Gò Công Tây).

Từ sáng sớm đoàn y bác sĩ Bệnh viện Lê Văn Thịnh xuất phát về điểm khám tại nhà văn hóa xã Đồng Thạnh, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang. Theo lịch khám là 08h00 sáng cùng ngày nhưng Bà con đã đến đây từ rất sớm để chờ đón đoàn y bác sĩ bệnh viện thành phố về khám bệnh, phát thuốc, tặng quà miễn phí cho bà con, theo chính quyền địa phương đa số người dân những hộ nghèo , gia đình chính sách nơi đây có hoàn cảnh rất khó khăn, địa phương cũng đã nỗ lực vận động cùng chăm lo nhưng cũng chỉ được một phần nào hỗ trợ ch bà con nơi đây.

 

Bà con đến từ rất sớm chờ đoàn y, bác sĩ đến khám. – Nguồn ảnh: Trần Châu (P.CTXH)

Bác Nguyễn T, 61 tuổi cho biết, tôi làm nghề bán vé số bị tai nạn trông quá trình snh hoạt bị giẫm phải đinh hơn ba ngày nay chưa đi tiêm ngừa được, nghe đoàn y bác sĩ thành phố về đây khám tôi tranh thủ ghé qua nhờ xem tình trạng như thế nào, theo đánh giá của bác sĩ khám hiện tại vết thương đang mưng mũ viêm xung quanh, cần lên tuyến trên để xử trí tiếp tục và tiêm ngừa để phòng ngừa uống ván mặc dù đã trễ.

Kiểm tra đo huyết áp trước khi vào khám bệnh. – Nguồn ảnh: Trần Châu (P.CTXH)

Cùng hoàn cảnh Bà Lê Thị Do, 64 tuổi, ngụ tại xã Đồng Thạnh, huyện Gò Công Tây, Tiền Giang, bị xe máy tông khi đi bán vé số khoảng 6 tháng trước. Sau ca phẫu thuật, bà đi lại được nhưng sức khỏe yếu dần. Thêm vào đó, bệnh phổi khiến bà khó thở, mệt mỏi, thở dốc thường xuyên.

Nghe tin đoàn bác sĩ từ TP.HCM về Tiền Giang, em L.H.T (9 tuổi) vội chở bà lên hội trường khám từ thiện. Hai bà cháu chậm chạp trên chiếc xe đạp thường dùng để bán vé số. “Cũng may hôm nay là chủ nhật, con không đi học nên chở bà đi khám bệnh”, T. nói.

Em được bà ngoại nuôi từ khi mới 3 tháng tuổi. Cha mẹ em chia tay, mẹ đi biền biệt không về. Cậu bé lớn lên bằng nghề bán vé số của bà ngoại. Em cho biết sau buổi sáng ở trường, chiều về, cậu bé sẽ phụ bà bán số. Có hôm đi khắp nơi, hai bà cháu bán được gần 100 tờ, tích cóp đủ sống qua ngày.

Cách đây ít lâu, hai bà cháu gặp mẹ T. cũng đang bán vé số. “Con nhìn mẹ nhưng mẹ không nhìn con”, T. kể rồi chạy vào gần chỗ bà ngoại đang đo huyết áp.

Bà được các Bác sĩ bệnh viện Lê Văn Thịnh siêu âm tại chỗ. – Nguồn ảnh: Trần Châu (P.CTXH)

Theo Ông Trần Quang Châu, Trưởng Phòng Công tác xã hội (CTXH) Bệnh viện Lê Văn Thịnh, chương trình từ thiện khám bệnh, phát thuốc tặng quà cho bà con vùng sâu vùng xa có hoàn cảnh khó khăn được Phòng CTXH thực hiện thường xuyên giúp cho bà con được tiếp cận thăm khám, làm cận lâm sàng, chẩn đón tại chỗ giúp định hướng công tác điều trị sau này cho bà con. Ngoài ra trong lúc thăm khám nếu phát hiện những ca bệnh đặc biệt khó khăn tại cơ sở chưa đủ điều kiện để điều trị thì được bệnh viện Lê Văn Thịnh tiếp nhận hỗ trợ điều trị cho người dân.

Theo đại diện của “Quỹ từ thiện Vun Gốc” thì đơn vị cũng thường xuyên đồng hành với các đơn vị về an sinh xã hội, trong đợt này các thành viên Công ty Cổ Phần QH Plus cùng đồng hành chăm lo sức khỏe cho bà con vùng sâu vùng xa được trải nghiệm thêm về hoàn cảnh khó khăn của người dân khi được chăm sóc về y tế.

Đại diện các đơn vị trao quà tặng cho bà con. – Nguồn ảnh: Trần Châu (P.CTXH)

Đợt khám từ thiện lần này được tổ chức nhân kỷ niệm ngày Công tác xã hội Việt Nam 25/3. Tại chương trình đoàn đã khám bệnh, phát thuốc miễn phí và tặng 300 phần quà nhu yếu phẩm cho các hộ gia đình chính sách có hoàn cảnh khó khăn, người khuyết tật, người già neo đơn và người có công với cách mạng. Tổng trị giá chương trình 110 triệu đồng do Công ty Cổ Phần QH Plus “Quỹ từ thiện Vun Gốc” ; Câu lạc bộ Doanh nhân Tiền Giang tại TP. Hồ Chí Minh và Đoàn bác sĩ Bệnh viện Lê Văn Thịnh (TP. Hồ Chí Minh) tài trợ.

Theo bác sĩ Hùng, qua thăm khám, đa phần bà con có bệnh về xương khớp vì làm nông, hoặc mắc bệnh về huyết áp, tiểu đường, tim mạch… do lớn tuổi. Một số trường hợp bị bệnh Parkinson, ung thư gan. cần phải điều trị lâu dài và kiên trì.

Sau khi khám bà con nhận thuốc, nhận quà ra về. – Nguồn ảnh: Trần Châu (P.CTXH)

Ông Huỳnh Thanh Bình, Chủ tịch huyện Gò Công Tây, cho biết địa phương rất trân trọng khi đoàn y bác sĩ của TP.HCM và mạnh thường quân về cấp thuốc và khám bệnh cho bà con. Đặc biệt, với người bệnh lớn tuổi hay neo đơn, việc đến cơ sở y tế thăm khám rất khó khăn vì không có người đưa đón.

Theo nhận xét đoàn Y, Bác sĩ Bệnh viện Lê Văn Thịnh với tay nghề cao về đây đã mang đến cho bà con nhiều cơ hội được chăm sóc sức khỏe tốt hơn trong thời gian tới”, ông Bình chia sẻ.

Trần Châu. – TP.CTXH


Thông Tin Liên Hệ

BỆNH VIỆN LÊ VĂN THỊNH
Địa chỉ: 130 Lê Văn Thịnh, phường Bình Trưng, thành phố Hồ Chí Minh
Điện thoại: 1900633878
Email: bvlvthinh.tpthuduc@tphcm.gov.vn
Thời gian làm việc:
- Trong giờ: 06:00 - 16:30
- Ngoài giờ: 16:30 - 19:00
Cấp cứu: 24/7

Bản Quyền © 2021 Bệnh Viện Lê Văn Thịnh - Thiết Kế và Phát Triển bởi Hân Gia Group