https://www.sggp.org.vn/benh-nhan-ngo-doc-xyanua-tai-dong-nai-duoc-cuu-song-nhu-the-nao-post747939.html

Bệnh nhân nhập viện trong tình trạng hôn mê, rối loạn nhịp nên bác sĩ nghi ngờ mắc bệnh lý tim mạch. Tuy nhiên, các dấu hiệu bất thường đã hướng đến khả năng nhiễm độc Xyanua.

Chiều 5-7, Bệnh viện Lê Văn Thịnh (TP Thủ Đức) cho biết đang điều trị cho bệnh nhân N.H.B.T. (18 tuổi, ngụ tại huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai) bị ngộ độc Xyanua.

Theo đó, nam thanh niên nhập viện cấp cứu vào tối 22-6 trong tình trạng hôn mê, mất tri giác đột ngột, rối loạn nhịp tim. Bác sĩ khoa cấp cứu tiến hành đặt nội khí quản cho bệnh nhân, sử dụng thuốc vận mạch và hội chẩn liên khoa. Trước tình huống bệnh nhân bị rối loạn nhịp, hôn mê, các bác sĩ nghĩ nhiều đến khả năng bị bệnh lý viêm cơ tim cấp hoặc rối loạn nhịp, liên quan yếu tố gia đình. Tuy nhiên, khai thác thông tin bệnh sử lại không phù hợp với chẩn đoán.

bv-le-van-thinh-497.jpg
Thanh niên 18 tuổi được cấp cứu tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh vào ngày 22-6

Theo BS Nguyễn Phạm Cao Khoa, Khoa Nội Tim mạch – Lão học, Bệnh viện Lê Văn Thịnh, điểm nổi bật của người bệnh là tình trạng toan chuyển hoá nặng, lactate tăng cao, phù phổi, giãn đồng tử, do đó nghi ngờ khả năng nhiễm độc chất Xyanua. Đây là độc chất nguy hiểm, làm ức chế hô hấp tế bào do không sử dụng được oxy, hấp thu vào máu rất nhanh và gây tử vong.

Thời điểm này, nếu chuyển bệnh nhân lên tuyến trên, nguy cơ tử vong trên đường rất cao. Vì thế, ê kíp quyết định tiến hành lọc máu hấp phụ để loại bỏ độc chất. Sau 12 giờ lọc máu với hai quả lọc hấp phụ, tình trạng người bệnh cải thiện dần, giảm liều vận mạch, toan chuyển hóa và lactate cải thiện. Dịch dạ dày được lấy xét nghiệm, kết quả ghi nhận có độc chất Xyanua. Ngày 30-6, bệnh nhân cai máy thở. Tuy nhiên, người bệnh bị tiêu cơ vân, tổn thương rải rác vỏ não do độc chất Xyanua.

Sau 2 tuần điều trị, hiện nam thanh niên đã tỉnh táo, nhận biết được người nhà, thực hiện được y lệnh của bác sĩ, đang tập vật lý trị liệu do sức cơ yếu, đi lại cần người hỗ trợ. Về di chứng não, BS Nguyễn Phạm Cao Khoa kỳ vọng bệnh nhân có thể hồi phục được do trẻ tuổi, thể trạng tốt. Thực tế, nhiều trường hợp ngộ độc Xyanua bị tổn thương não rất nặng, thậm chí phải sống thực vật.

z5604714354598_0cf652d26f77029efeddd702af9d641e_censored.jpg
Phòng hồi sức tim mạch, Bệnh viện Lê Văn Thịnh – nơi điều trị cho bệnh nhân nhiễm độc Xyanua

Theo BS Kiều Ngọc Minh, Phó Giám đốc Bệnh viện Lê Văn Thịnh, đây là ca ngộ độc Xyanua đầu tiên được ghi nhận tại cơ sở y tế này. “Các bác sĩ trẻ đã nhận định đúng, kịp thời xử trí và cứu được người bệnh, đồng thời tìm ra nguyên nhân dưới sự hỗ trợ chuyên môn của các chuyên gia chống độc Bệnh viện Chợ Rẫy”, BS Kiều Ngọc Minh chia sẻ.

Trước đó, như Báo SGGP đưa tin, 5 người thân của anh N.H.B.T. cùng chung sống trong một gia đình đã chết một cách bất thường trong vòng 8 tháng. Từ tháng 10-2023 đến tháng 5- 2024, tại gia đình ông N.V.H. (ngụ xã Vĩnh Thanh, huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai) có 5 người tử vong gồm ông H., 2 cháu ngoại, 1 cháu nội và 1 người con rể. Triệu chứng chung đều liên quan đến ngưng tim, rối loạn nhịp tim. Trước khi chết, các nạn nhân bị nôn ói, nhức đầu, chóng mặt.

Đến cuối tháng 6-2024, anh N.H.B.T. (là cháu nội của ông N.V.H.) đột ngột bị hôn mê, bất tỉnh. Sau cấp cứu, bệnh viện thông báo kết quả xét nghiệm dịch dạ dày có chất Xyanua. Nghi ngờ có khuất tất, người thân của anh N.H.B.T. đã làm đơn trình báo công an và đề nghị điều tra. Công an huyện Nhơn Trạch phối hợp các phòng nghiệp vụ thuộc Công an tỉnh Đồng Nai vào cuộc điều tra vụ việc, bước đầu xác định được một nghi phạm nên đã bắt giữ và đang đấu tranh làm rõ.



https://hcdc.vn/nuoi-con-bang-sua-me–tai-sao-phong-vat-tru-sua-me-tai-noi-lam-viec-la-can-thiet-NiL2Cc.html

Cập nhật: 19:03 – 05/07/2024 | Lần xem: 263

Nuôi con bằng sữa mẹ – Tại sao phòng vắt, trữ sữa mẹ tại nơi làm việc là cần thiết?

Nuôi con bằng sữa mẹ là cách tốt nhất để đảm bảo sức khỏe và sự phát triển toàn diện cho trẻ sơ sinh. Tuy nhiên, nhiều phụ nữ phải quay trở lại làm việc sau khi sinh con, dẫn đến việc khó khăn trong việc nuôi con bằng sữa mẹ. Nhằm hỗ trợ lao động nữ nuôi con bằng sữa mẹ, đồng thời tạo môi trường làm việc thân thiện, nhiều doanh nghiệp đã và đang tích cực xây dựng phòng vắt sữa mẹ tại nơi làm việc.

Nghị định số 145/2020/NĐ-CP đề cao việc tạo điều kiện cho phụ nữ nuôi con bằng sữa mẹ. Theo nghị định, doanh nghiệp có từ 1.000 lao động nữ trở lên có trách nhiệm trang bị phòng vắt, trữ sữa mẹ phù hợp. Đây là hành động thiết thực thể hiện sự quan tâm của doanh nghiệp đến sức khỏe của lao động nữ và góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Lợi ích thiết thực

• Đối với sức khỏe của mẹ: Giảm nguy cơ mắc các bệnh ung thư vú, ung thư buồng trứng, loãng xương,… Lao động nữ cảm thấy tự tin có thể duy trì nuôi con bằng sữa mẹ khi đi làm.

• Đối với sức khỏe của bé: Tăng cường hệ miễn dịch, giảm nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm, dị ứng, tiêu chảy, béo phì,…

• Đối với doanh nghiệp: Tăng cường hiệu quả công việc, giảm thiểu chi phí nghỉ thai sản, nghỉ ốm của lao động nữ, thu hút và giữ chân nhân viên nữ, tạo ra lực lượng lao động ổn định cho doanh nghiệp.

Số lượng phòng vắt, trữ sữa theo số lượng lao động nữ

Theo Quyết định số 5175/QĐ-BYT ngày 09 tháng 11 năm 2021 của Bộ Y Tế, số lượng phòng vắt, trữ sữa tối thiểu tại nơi làm việc phải đáp ứng theo quy định sau:

Hướng dẫn thiết lập và vận hành phòng vắt, trữ sữa mẹ

+ Người sử dụng lao động phối hợp với Công đoàn, các đơn vị y tế và các tổ chức có liên quan thực hiện truyền thông nâng cao nhận thức về nuôi con bằng sữa mẹ tại nơi làm việc cho Lao động nữ đang mang thai và nuôi con nhỏ dưới 24 tháng tuổi.

+ Cơ sở thiết lập và vận hành phòng vắt, trữ sữa mẹ giao cho cán bộ đầu mối và phân công trách nhiệm quản lý, giám sát, đánh giá việc vận hành, sử dụng phòng vắt, trữ sữa mẹ.

+ Căn cứ vào điều kiện cụ thể, đơn vị bố trí thời gian sao cho không ảnh hưởng đến việc sản xuất; phù hợp với công suất sử dụng của phòng vắt, trữ sữa mẹ, tránh quá tải; phù hợp với nhu cầu sinh học của lao động nữ trong việc vắt sữa

Hình ảnh Phòng vắt và trữ sữa mẹ (sưu tầm)

Khoa Sức khoẻ cộng đồng – Môi trường và Bệnh nghề nghiệp, HCDC

 



CẤP CỨU KỊP THỜI CỨU NGƯỜI THOÁT CHẾT TRONG GANG TẤC

Thứ 6, ngày 28/06/2024, 8:00PM, tại BV Lê Văn Thịnh.

(BV.LVT) Hàng ngày trong cuộc sống tai nạn lao động (TNLĐ), tai nạn trong sinh hoạt (TNSH), tai nạn giao thông (TNGT) và nhiều nguyên nhân tai nạn do vô tình, do cố ý hặc do bất cẩn luôn hiện diện quanh cuộc sống hàng ngày đặc biệt là các tai nạn có vết thương tại các vùng trọng yếu như vết thương tim, vết thương vùng cổ – gáy, vết thương động mạch máu liên quan các vùng cơ xương khớp … thường gặp trong cấp cứu hàng ngày tại các bệnh viện.

Đây là các vùng trọng yếu trong cơ thể duy trì nuôi sống các cơ quan, ví dụ như vết thương tim, vết thương vùng cổ vùng này có các mạch máu nuôi não mà thường được gọi là mạch máu vùng cổ – nền cổ (bao gồm: hệ thống động mạch cảnh, tĩnh mạch cảnh trong, động – tĩnh mạch dưới đòn, động tĩnh mạch vô danh, động mạch cột sống). Vết thương động mạch thường gây mất máu nhiều và cấp tính nên là loại tổn thương cần được xử trí ngay. Mặc khác, các vết thương mạch máu vùng cổ-nền cổ, vết thương tim cần xác định nhanh chẩn đoán và xử trí kịp thời thì cơ hội sống càng cao, vì đây là vùng phức tạp hơn so với vết thương mạch máu ở tứ chi và có tỉ lệ tử vong cao 30- 40%, nguyên nhân chủ yếu là do mất máu nặng, sốc không hồi phục.

Vừa qua, tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh (BV LVT), Đơn vị phẫu thuật Lồng ngực mạch máu (ĐV PT LN-MM) đã cứu sống bệnh nhân có vết thương tim nguy kịch. Đó là anh L.C.T (sinh năm: 1987) ngụ tại phường An Phú, thành phố Thủ Đức được người nhà đưa đến phòng cấp cứu (BV LVT) nhập viện trong tình trạng nguy kịch, tiếng tim mờ mạch nhanh 115 lần/phút. Vùng trước ngực bên trái có một vết thương kishc thước khoảng 2x2cm đang chảy máu. Bác sĩ Nguyễn Nhật Minh trực ngày hôm đó sau khi thăm khám tại phòng cấp cứu nhận định đây là trường hợp bệnh nặng, khả năng tử vong cao, ê-kíp trực đã làm việc khẩn trương, phối hợp nhịp nhàng, hội chẩn liên chuyên khoa thực hiện các thao tác để cấp cứu bệnh nhân đồng thời báo nhanh cho Bác sĩ Nguyễn Thái Dũng phụ trách Đơn vị phẫu thuật Lồng ngực mạch máu phẫu thuật cấp cứu ngay trong đêm.

Sau hội chẩn nhanh bệnh nhân được vận chuyển ngay đến phòng mổ tiến hành hành phẫu thuật cấp cứu, khi đến phòng mổ bệnh nhân rơi vào tình trạng sốc do chèn ép tim, ê-kíp phẫu thuật nhanh chóng vừa hồi sức, vừa tiến hành đặt CVC, CAP cho bệnh nhân, đồng thời các bác sĩ phẫu thuật tiến hành kê tư thế tiến hành mở ngực nhanh phát hiện một vết thương tim xuyên màng ngoài tim, ê-kíp tiếp tục mở rộng khoang màng ngoài tim tìm thấy một vết thương tim đang chảy máu theo nhịp tim và khoảng 200ml máu đỏ thoát ra đồng thời tình trạng sốc của bệnh nhân cải thiện rõ rệt, ổn định sinh hiệu, các bác sĩ phẫu thuật tiếp tục tìm tổn thương tim, mở rộng khoang màng ngoài tim tìm thấy 01 vết thương đường kính vết thương 0.5×0.5cm gây tổn thương thành tim (thất trái). Nhận định được nguyên nhân các bác sĩ phẫu thuật nhanh chóng cầm máu, khâu lại vết thương sau hơn 1h30 được phẫu thuật tình trạng sinh hiệu bệnh nhân bắt đầu được cãi thiện rõ rệt bệnh nhân đã qua cơn nguy kịch sau đó được chuyển về phòng hồi sức tiếp tục theo dõi điều trị.

Khoản 15h00 cùng ngày bệnh nhân được chuyển về Đơn vị phẫu thuật lồng ngực mạch máu để tiếp tục điều trị. Sau hơn 06 ngày điều trị tại ĐV PT LN-MM được các y bác sĩ điều dưỡng tận tình chăm sóc, thăm khám hàng ngày, kiểm tra các chỉ số liên quan sau hậu phẫu, tình trạng vết thương hiện tại, sinh hiệu, đến nay bệnh nhân nhanh chóng được hồi phục sức khỏe ra viện chờ ngày tái khám.

Ảnh 1: Phòng Công tác xã hội BV Lê Văn Thịnh thăm động viên Anh L.C.T SN 1987, ngụ TP Thủ Đức tại Đơn vị phẫu thuật Lồng ngực – Mạch máu sau khi được cấp cứu thành công. – Nguồn ảnh: P.CTXH

Tiếp theo đó không lâu ĐV PT LN-MM bệnh viện tiếp nhận thêm một bệnh nhân nam N.T.N (sinh năm 1996) ngụ tại xã Phú Đông, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai vào cấp cứu bệnh viện với vết thương vùng cánh tay, khuỷu tay, cẳng tay phải chảy nhiều máu khó cầm, bác sĩ trực cấp cứu thông báo hội chẩn liên chuyên khoa, các bác sĩ trực các khoa và bác sĩ trực ĐV PT LN-MM sau khi hội chẩn đây là vết thương phức tạp, có tổn thương mạch máu, thần kinh – cơ nên đã đề xuất mổ cấp cứu.

Tại phòng mổ sau khi bệnh nhân được kiểm tra sinh hiệu, các xét nghiệm, khám tiền phẫu, ê-kíp phẫu thuật tiến hành gây mê rửa sạch vết thương tiến hành thăm dò mổ thám sát vết thương phát hiện bệnh nhân bị đứt tổn thương mạch mạch máu, thần kinh – cơ, ê-kíp đã tiến hành khâu nối mạch máu, thần kinh, cơ, tiến hành vệ sinh vết thương, cầm máu thám sát lại sau phẫu thuật. Sau hơn 3h00 được phẫu thuật bệnh nhân đã qua cơn nguy kịch được chuyển qua hồi sức sau đó chuyển lên ĐV PT LN-MM để tiếp tục theo dõi điều trị, chăm sóc hậu phẫu.

Qua tìm hiểu khai thác bệnh sử người nhà bệnh nhân cho biết trong lúc phụ làm lao động tại nhà người thân không may bị kính vỡ rơi cắt đứt vùng cánh tay, khuỷu tay, cẳng tay được người nhà nhanh chóng đưa đi cấp cứu tại bệnh viện trong tình trạng máu chảy nhiều, huyết áp tụt. Bệnh nhân cũng là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh rất khó khăn, ba mẹ đi làm mướn, chi phí điều trị cao, BHYT hết hạn khong có tiền gia hạn Phòng Công tác xã hội bệnh viện đã tiến hành thủ tục hỗ trợ kinh phí cho bệnh nhân tiếp tục mua BHYT và vận động kinh phí điều trị. Sau hơn 10 ngày điều trị tại ĐV PT LN-MM đến nay tình trạng đã ổn, theo bác sĩ điều trị bệnh nhân còn phải tái khám theo dõi điều trị và lên phương án phẫu thuật tiếp theo.

Ảnh 2: Phòng Công tác xã hội Bệnh viện Lê Văn Thịnh thăm trao tặng kinh phí điều trị cho Em N.T.N SN 1997 ngụ Nhơn Trạch, Đồng Nai đang điều trị sau phẫu thuật tại ĐV PT LN-MM. – Nguồn ảnh: P.CTXH.

Theo Bác sĩ Nguyễn Thái Dũng phụ trách ĐV PT LN-MM nhận xét:

Thứ nhất: “Tỷ lệ tử vong ngoại viện do vết thương tim có thể lên đến 90%, chủ yếu do nguyên nhân mất máu cấp hoặc chèn ép tim cấp. Do vậy, việc chẩn đoán, tiên lượng chính xác và có chỉ định xử trí đúng đắn, kịp thời cho bệnh nhân có vết thương trong tim là những yếu tố quyết định tới khả năng cứu sống người bệnh”.

Thứ hai: Việc sơ cứu đúng cách kịp thời tại chỗ vết thương mạch máu là việc làm vô cùng quan trọng giúp cứu sống người bệnh khi có chấn thương dẫn đến tình trạng mất máu không may xảy ra. Vì thế, nếu biết cách cầm máu sao cho đúng và hiệu quả là việc làm hết sức cần thiết, nhằm giảm biến chứng và nguy cơ tử vong.

Thầy thuốc ưu tú, Bác sĩ chuyên khoa II Trần Văn Khanh, giám đốc Bệnh viện Lê Văn Thịnh thông tin thêm Bệnh viện Lê Văn Thịnh là bệnh viện đa khoa hạng I tuyến quận huyện, với đội ngũ y, bác sĩ với năng lực chuyên môn được đào tạo bài bản vững vàng, đáp ứng nhu cầu điều trị cho Nhân dân trong thành phố Thủ Đức, vùng lân cận và ngoài tỉnh. Đơn vị phẫu thật Lồng ngực mạch máu mới thành lập tuy chưa lâu những đã phối hợp cấp cứu thành công nhiều bệnh nhân bị thương có tổn thương liên quan đến mạch máu, vùng ngực, nhất là ngực trái, được đưa vào bệnh viện can thiệp, xử trí kịp thời cứu sống bệnh nhân trong gang tấc giống như những trường hợp cấp cứu nêu trên.

Trần Châu. – TP.CTXH

 

 



1. Thuốc Acid fusidic là thuốc gì?

Acid fusidic và dạng muối natri fusidat là một kháng sinh có cấu trúc steroid, thuộc nhóm fusidanin, có tác dụng kìm khuẩn và diệt khuẩn, chủ yếu tác dụng lên vi khuẩn Gram dương.

Acid fusidic ức chế vi khuẩn tổng hợp protein thông qua ức chế một yếu tố cần thiết cho sự chuyển đoạn của các đơn vị phụ peptid và sự kéo dài chuỗi peptid. Mặc dù acid fusidic có khả năng ức chế tổng hợp protein trong tế bào động vật có vú, nhưng do khả năng thâm nhập rất kém vào tế bào chủ nên thuốc có tác dụng chọn lọc chống các chủng vi khuẩn nhạy cảm.

Acid fusidic tác dụng tốt trên các chủng Staphylococcus, đặc biệt là S. aureus và S. epidermidis (bao gồm cả những chủng kháng meticilin). Nocardia asteroides và nhiều chủng Clostridium cũng rất nhạy cảm với thuốc. Các chủng Streptococcus và Enterococcus ít nhạy cảm hơn.

Hầu hết các chủng Gram âm đều không nhạy cảm với acid fusidic, tuy nhiên thuốc tác dụng tốt đối với Neisseria spp., Bacteroides fragilis. Thuốc có tác dụng trên Mycobacterium leprae, và một phần trên M. tuberculosis.

Thuốc có tác dụng trên một số động vật nguyên sinh bao gồm Giardia lamblia, Plasmodium falciparum. Ở nồng độ cao, in vitro, thuốc có tác dụng ức chế virus phát triển, kể cả HIV, tuy nhiên chưa rõ đó thực sự là tác dụng kháng virus của thuốc hay là tác dụng diện hoạt hoặc tác dụng độc hại tế bào nói chung. Thuốc không có tác dụng đối với nấm.

Kháng thuốc có thể thấy xuất hiện thông qua trung gian nhiễm sắc thể, làm thay đổi tính thấm của thuốc vào tế bào. Tỷ lệ đột biến kháng thuốc cao in vitro. Cho tới nay, chưa thấy kháng chéo với các kháng sinh khác. Khi dùng đơn độc, acid fusidic đường toàn thân rất dễ bị kháng thuốc, tỷ lệ lên tới 5%, do đó cần kết hợp với các kháng sinh khác.

2. Cách sử dụng thuốc Acid Fusidic như thế nào?

                                                                                                  Hình: nguồn internet

Thuốc axit fusidic có thể có dạng tiêm truyền, thuốc bôi và dạng thuốc uống. Trước khi bắt đầu sử dụng thuốc điều trị, bạn nên đọc kỹ hướng dẫn sử dụng và dùng thuốc chính xác theo chỉ dẫn của bác sĩ Da liễu. Đối với, axit fusidic bôi, bạn lấy một lượng kem mỏng/thuốc mỡ lên vùng da bị nhiễm trùng và thoa nhẹ nhàng trên bề mặt da. Bạn nên dùng 3–4 lần một ngày trừ trường hợp bác sĩ điều trị có chỉ dẫn khác. Bạn cần lưu ý luôn rửa sạch tay thật kỹ càng sau khi dùng thuốc (trừ khi bạn dùng thuốc để trị bệnh ở tay).Có thể băng lại nếu cần. Tránh bôi thuốc thành lớp dày. Giới hạn đợt điều trị không quá 10 ngày do nguy cơ kháng thuốc khi dùng kéo dài.

Nếu vô tình để dính kem vào mắt, bạn nên rửa ngay bằng nước sạch, nhỏ nước muối sinh lý để rửa lại mắt. Mắt lúc này có thể bị đau. Nếu gặp vấn đề về mắt hoặc không khỏi đau, bạn nên nhanh chóng đến bác sĩ.

3. Liều dùng axit fusidic như thế nào?

Thuốc dùng đường uống, dùng ngoài (dưới dạng acid fusidic hoặc natri fusidat) hoặc đường tĩnh mạch (dạng natri fusidat). 1 g natri fusidat tương đương với 0,98 g acid fusidic. Do acid fusidic hấp thu kém hơn natri fusidat, trong điều trị, 250 mg acid fusidic chỉ tương đương với 175 mg natri fusidat. Vì thế liều của hỗn dịch acid fusidic (thường dùng cho trẻ em) tương đối cao hơn.

Liều thông thường cho người lớn là uống natri fusidat 500 mg, cứ mỗi 8 giờ một lần. Có thể tăng liều gấp đôi trong trường hợp nhiễm khuẩn nặng. Để điều trị nhiễm khuẩn Staphylococcus ở da, có thể dùng liều 250 mg/lần, 2 lần/ngày.

Liều uống của hỗn dịch acid fusidic: Trẻ dưới 1 tuổi: 15 mg/kg/ lần, 3 lần/ngày. Trẻ từ 1 – 5 tuổi: 250 mg/lần, 3 lần/ngày. Trẻ từ 5 – 12 tuổi: 500 mg/lần, 3 lần/ngày. Trẻ em > 12 tuổi và người lớn: 750 mg/lần, 3 lần/ngày.

Trường hợp nhiễm khuẩn nặng có thể dùng natri fusidat truyền tĩnh mạch chậm. Người lớn cân nặng trên 50 kg dùng liều 500 mg/lần, 3 lần/ngày. Trẻ em và người lớn cân nặng dưới 50 kg, dùng liều 6 – 7 mg/kg/lần, 3 lần/ngày.

Hòa tan lọ bột tiêm 500 mg với 10 ml dung môi. Sau đó pha vào 250 – 500 ml dịch truyền Natri clorid 0,9% hoặc Glucose 5% và truyền tĩnh mạch trung tâm trong ít nhất 2 giờ. Nếu truyền qua tĩnh mạch ngoại vi, chọn mạch lớn và truyền trong ít nhất 6 giờ. Không được tiêm trực tiếp vào tĩnh mạch. Bột pha tiêm sau khi hòa tan vào dung môi có thể bảo quản ở nhiệt độ dưới 25 °C trong vòng 48 giờ. Thuốc bị kết tủa nếu pha với các dịch truyền có pH nhỏ hơn 7,4.

Kem và mỡ bôi ngoài da 2%: Bôi một lớp mỏng thuốc 3 – 4 lần mỗi ngày lên vùng da bị nhiễm khuẩn sau khi đã rửa sạch, có thể băng lại nếu cần. Tránh bôi thuốc thành lớp dày. Giới hạn đợt điều trị không quá 10 ngày do nguy cơ kháng thuốc khi dùng kéo dài.

Gel nhỏ mắt 1%: Nhỏ mắt 2 lần/ngày, vào buổi sáng và buổi tối, mỗi lần 1 giọt vào túi kết mạc dưới.

4. Liều dùng thuốc axit fusidic với trẻ em như thế nào?

Với trẻ em mắc bệnh nhiễm khuẩn nhạy cảm

Đối với dạng thuốc uống, bạn nên cho trẻ dùng liều lượng tùy theo độ tuổi của trẻ như sau;

Trẻ dưới 1 tuổi: dùng khoảng 15 mg/kg;

Trẻ 1–5 tuổi: dùng 250 mg;

Trẻ 5–12 tuổi: dùng 500 mg uống 3 lần/ngày.

Đối với dạng thuốc tiêm, liều dùng là 20 mg/kg chia làm 3 liều tiêm cho trẻ mỗi ngày. Thuốc được chỉ định truyền chậm trong thời gian ít nhất 2 giờ và nên truyền vào những mạch máu lớn với dòng chảy tốt.

Với trẻ em mắc bệnh đau mắt:

Đối với dạng thuốc nhỏ mắt thì dành cho trẻ trên 2 tuổi hoặc lớn hơn, bạn nhỏ vào mắt bị đau 1 giọt mỗi 12 giờ/ lần trong thời gian 7 ngày.

Với trẻ em mắc bệnh nhiễm trùng da:

Đối với dạng thuốc axit fusidic bôi mỡ/kem/gel 2%, bạn bôi lên vùng da bị nhiễm khuẩn của trẻ 3–4 lần/ ngày cho đến khi tình trạng cải thiện. Nếu dùng gạc, giảm liều xuống còn 1 – 2 lần/ngày.

                                                              Hình: nguồn internet

Thuốc axit fusidic dùng cho trẻ nhỏ cần dùng theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ

5. Tác dụng không mong muốn

Thuốc nhỏ mắt axit fusidic có thể gây ra một số tác dụng không mong muốn bao gồm:

Đau nhức hoặc nóng đốt trong thời gian ngắn sau khi dùng thuốc;

Phản vệ dị ứng (trường hợp quá mẫn cảm với thuốc).

Báo ngay cho bác sĩ điều trị nếu gặp bất kỳ triệu chứng nào sau đây trong khi dùng thuốc axit fusidic bôi:

Khó thở;

Phát ban;

Nhói và ngứa;

Ban ngứa và viêm.

Sưng mặt, cụ thể là ở quanh mắt hoặc mí mắt;

Nóng đỏ và đau nhói ở mắt, kéo dài.

Khi dùng dung dịch axit fusidic, bạn cần báo ngay cho bác sĩ điều trị khi:

Xuất hiện vàng da hoặc vàng lòng trắng mắt;

Đau, trào ngược dạ dày;

Không thể đi tiểu được (Vô niệu)

Dễ bị bầm tím trên da hoặc chảy máu không rõ nguyên nhân;

Lở loét miệng, họng, hoặc mắc các nhiễm trùng khác kéo dài và lặp lại.

Bệnh viện Lê Văn Thịnh với đội ngũ Y Bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, tận tâm và luôn lấy người bệnh làm trung tâm cho mọi hoạt động, nếu người bệnh có vấn đề về sức khỏe, hay cần biết thêm thông tin hãy đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh để được tư vấn, thăm khám và điều trị.

 

Dược sĩ Huỳnh Thị Thanh Thủy

(Nguồn: Dược thư Quốc gia Việt Nam 2022)

 

 



Quinapril là thuốc thuộc nhóm ức chế men chuyển (ACE), sau khi uống chuyển thành quinaprilat có hoạt tính sẽ ức chế enzyme chuyển Angiotensin I thành Angiotensin II dẫn đến làm giảm tác dụng co mạch và giảm tiết Aldosteron, được dùng để điều trị tăng huyết áp và suy tim. Ngoài tác dụng trên, các thuốc ức chế men chuyển còn ngăn giáng hóa bradykinin – chất gây giãn mạch mạnh, làm giảm sức cản ngoại biên, giảm giữ natri và nước làm hạ huyết áp.

                                                                               Hình: nguồn internet
  1. Chỉ định:

_ Điều trị tăng huyết áp dùng đơn trị liệu hoặc phối hợp với các thuốc hạ huyết áp khác.

_ Suy tim sung huyết ( dùng đơn trị liệu hoặc kết hợp với thuốc lợi tiểu và / hoặc digitalis)

_ Bệnh thận do đái tháo đường kèm theo tăng huyết áp, có albumin niệu vi thể.

  1. Chống chỉ định:

_ Mẫn cảm với quinapril hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc.

_ Không sử dụng aliskiren phối hợp với quinapril ở người bệnh đái tháo đường có tăng huyết áp.

_ Tiền sử phù mạch liên quan đến điều trị bằng thuốc ức chế ACE.

_Người mang thai.

_ Nên tránh dùng ở người đã biết hoặc nghi ngờ bị bệnh mạch thận như hẹp động mạch thận hai bên hoặc hẹp động mạch thận ở thận độc nhất, người ghép thận, bệnh mạch ngoại biên hoặc xơ vữa động mạch toàn thân nặng.

  1. Thận trọng:

Thuốc có thể gây phù mạch, đặc biệt sau khi dùng liều đầu tiên. Nếu phù mạch kèm với phù thanh quản có thể gây tử vong thì phải ngừng thuốc ngay lập tức, điều trị phù hợp và theo dõi chặt chẽ.

Người suy giảm chức năng thận. Do ức chế hệ renin-agiotensin-aldosteron (RAA) nên có thể gây giảm chức năng thận và suy thận có hoặc không dẫn đến tử vong ở các người bệnh tăng huyết áp ( đặc biệt ở người bệnh tăng huyết áp kèm theo hẹp động mạch thận một hoặc hai bên, người bệnh bị suy thận trước đó, đã  hoặc đang phối hợp với thuốc lợi tiểu. ADR này sẽ phục hồi khi ngừng thuốc ức chế ACE và/hoặc thuốc lợi tiểu phối hợp.

Nguy cơ hạ huyết áp mạnh có thể gây ngất khi dùng thuốc ức chế ACE ở người suy tim, hạ natri huyết, dùng thuốc lợi tiểu liều cao, thẩm tách thận hoặc giảm thể tích máu hoặc muối nghiêm trọng. Phải theo dõi chặt người bệnh khi uống thuốc lần đầu và trong 2 tuần đầu điều trị.

Người đái tháo đường, người suy thận, dùng đồng thời với thuốc lợi tiểu giữ kali hoặc chế độ bổ sung nhiều kali sẽ làm tăng nguy cơ gây tăng kali huyết của quinapril.

Người suy thận hoặc bị bệnh tự miễn, đặc biệt các bệnh như lupus ban đỏ hệ thống, xơ cứng bì và bệnh suy tủy xương: Tăng nguy cơ làm giảm bạch cầu trung tính hoặc mất bạch cầu hạt của quinapril. Phải kiểm tra định kỳ số lượng bạch cầu trong máu người bệnh.

Thận trọng khi sử dụng quinapril ở bệnh nhân hẹp động mạch nặng hoặc có triệu chứng ( do nguy cơ bị hạ huyết áp) và ở bệnh nhân bị phì đại cơ tim.

            Hình: nguồn internet
  1. Tác dụng không mong muốn:

Thường gặp:

Ho dai dẳng ( hết khi ngừng thuốc)

Tăng creatinine hoặc nitrogen ure huyết ( tăng nhiều hơn ở người dùng kết hợp quinapril với thuốc lợi tiểu)

Tăng kali huyết.

Ít gặp:

Tụt huyết áp ( liều khởi đầu ở người bệnh giảm natri hoặc giảm thể tích máu, hoặc ở người suy tim sung huyết)

Ngủ gà, ngất, mất ngủ, tình trạng kích động, trầm cảm, dị cảm.

Buồn nôn, loạn vị giác, đầy hơi, khô miệng và họng, tiêu chảy hoặc táo bón, đau bụng.

Hiếm gặp:

Phù mạch, đau thắt ngực, loạn nhịp tim, hạ huyết áp thế đứng, sốc tim.

Viêm tụy, chảy máu đường tiêu hóa.

  1. Liều lượng:

Điều trị tăng huyết áp:

Nếu không dùng thuốc lợi tiểu, liều khởi đầu thông thường của quinapril là 10mg/lần, 1 lần/ngày.

Ở người bị mất nước và giảm natri huyết do dùng thuốc lợi tiểu từ trước, liều khởi đầu của quinapril là 5mg/lần.

Liều duy trì thông thường là 20 – 40 mg/ngày, dùng 1 lần hoặc chia làm 2 lần bằng nhau. Có thể dùng liều tối đa 80mg/ngày. Nếu cần có thể dùng thêm một thuốc lợi tiểu không giữ kali.

Điều trị đồng thời với thuốc lợi tiểu: Để giảm nguy cơ tụt huyết áp có thể xảy ra ở người đang dùng thuốc lợi tiểu, nếu có thể được, nên ngừng thuốc lợi tiểu 2 -3 ngày trước khi bắt đầu dùng quinapril.

Nếu không thẻ ngừng thuốc lợi tiểu, dùng liều khởi đầu 2,5mg/ngày dưới sự giám sát chặt chẽ của thầy thuốc trong vài giờ, đến khi huyết áp ổn định.

Điều trị suy tim sung huyết:

Do nguy cơ hạ huyết áp nghiêm trọng, phải theo dõi chặt người bệnh khi bắt đầu điều trị bằng quinapril, đồng thời xem xét việc dùng thuốc lợi tiểu thời gian gần đây. Người bệnh bị suy tim sung huyết có hoặc không có suy thận đều phải được theo dõi chặt trong 2 tuần đầu điều trị bằng quinapril và bất kỳ khi nào tăng liều quinapril hoặc thuốc lợi tiểu.

Liều khởi đầu thường dùng ở người lớn suy tim sung huyết có nồng độ natri huyết và chức năng thận bình thường thì uống 5mg/lần, 2 lần/ngày. Cần theo dõi người bệnh sau liều khởi đầu ít nhất 2 giờ tránh hạ huyết áp quá mức và điều chỉnh liều hàng tuần đến liều có hiệu quả.

Liều duy trì là 10 -20mg/ngày, dùng một lần hoặc chia làm 2 lần bằng nhau. Có thể tăng liều tối đa đến 40mg/ngày.

Liều dùng ở người suy thận:

Ở người tăng huyết áp kèm suy thận, dùng liều khởi đầu và việc điều chỉnh liều dùng tùy theo mức độ suy thận được đánh giá dựa trên chỉ số độ thanh thải creatinine. Các liều tiếp sau phải được điều chitnh theo sự dung nhạp và đáp ứng huyết áp của mỗi người bệnh, thường sau khoảng thời gian ít nhất 2 tuần.

            Hình: nguồn internet
  1. Tương tác thuốc:

Dùng rượu, thuốc lợi tiểu hoặc các thuốc hạ huyết áp khác đồng thời với thuốc ức chế ACE có thể làm tăng tác dụng hạ huyết áp.

Cần theo dõi chặt chẽ bệnh nhân khi dùng liều khởi đầu quinapril kết hợp lợi tiểu furosemide ( > 80mg) hoặc lợi tiểu giữ kali, phải thường xuyên theo dõi nồng độ kali, natri trong máu.

Các thuốc chống viêm không steroid, đặc biệt indomethacin làm giảm tác dụng hạ huyết áp, làm tăng nguy cơ tổn thương thận.

Allopurinol, các chất kìm hãm tế bào, procainamide, corticoid hoặc các chất ức chế tủy xương có thể tăng nguy cơ phản ứng thuốc khi kết hợp với quinapril như giảm bạch cầu trung tính và/ hoặc chứng mất bạch cầu hạt, có thể gây tử vong.

Các thuốc giống giao cảm làm giảm tác dụng hạ huyết áp của các thuốc ức chế ACE.

Quinapril có thể làm giảm tác dụng của các kháng sinh nhóm quinolone và các dẫn chất tetracyclin.

Tác dụng của quinapril có thể bị giảm bới các thuốc kháng acid, aprotinin, các thuốc NSAID, các salicylate, yohimbin.

Bệnh viện Lê Văn Thịnh với đội ngũ Y Bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, tận tâm và luôn lấy Người bệnh làm trung tâm cho mọi hoạt động, nếu Người bệnh có vấn đề sức khỏe, hay cần biết thêm thông tin hãy đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh để được tư vấn, thăm khám và điều trị.

Dược sĩ Lương Ngọc Khánh Ngân

(Tài liệu tham khảo: Theo tờ hướng dẫn từ nhà sản xuất)

 

 



Dobutamin là một catecholamine tổng hợp, có tác dụng co cơ tim, được sử dụng điều trị suy tim và sốc tim. Hoạt tính của Dobutamin tăng co cơ tim mạnh, tăng thể tích tâm thu, từ đó làm tăng cung lượng tim nhưng ít ảnh hưởng đến tần số tim, đồng thời ít gây nhanh nhịp tim nhanh và loạn nhịp hơn catecholamine nội sinh.

1. Chỉ định:

Dobutamin được chỉ định để làm tăng co cơ tim trong suy tim cấp ( gặp trong sốc do tim, nhồi máu cơ tim, sốc nhiễm khuẩn).

Có thể dùng trong điều trị suy im sung huyết mạn tính nhưng phải thận trọng và không dùng dài hạn thuốc.

Ngoài ra thuốc còn được sử dụng trong nghiệm pháp gắng sức đê chẩn đoan bằng siêu âm hoặc xạ hình tim bệnh động mạch vành.

Hình: nguồn internet

2. Chống chỉ định:

Mẫn cảm với dobutamin hoặc thành phần trong chế phẩm.

Người bệnh tim phì đại tự phát do hẹp dưới van động mạch chủ.

3. Liều lượng và cách dùng:

Người lớn: 2,5 – 10 microgram/kg/phút, tối đa 40 microgam/kg/phút, chỉnh liều cho tới khi đạt tác dụng mong muốn.

Trẻ em:

Trẻ sơ sinh: Khởi đầu với liều 5 microgram/kg/phút, chỉnh liều theo đáp ứng, liều thường dùng 2 -15 microgram/kg/phút; tối đa 20 microgram/kg/phút.

Trẻ 1 tháng tuổi đến 18 tuổi: Khởi đầu với liều 5 microgram/kg/phút, chỉnh liều theo đáp ứng, liều thường dùng 2 -20 microgram/kg/phút.

Nồng độ dobutamin tiêm truyền phụ thuộc vào liều lượng và nhu cầu dịch truyền cho từng người bệnh, nhưng không được vượt quá 5000 microgram/ml.

4. Thận trọng:

Phải bù đủ thể tích tuần hoàn trước khi dùng dobutamin.

Ngấm thuốc ra ngoài có thể gây viêm tại chỗ, sự thoát ra ngoài mạch do tiêm chệch có thể gây hoại tử da.

Cần giám sát điện tâm đồ, huyết áp và cung lượng tim, áp lực phổi trong quá trình dùng thuốc.

Hết sức thận trọng sau nhồi máu cơ tim.

Phải pha loãng dung dịch đậm đặc dobutamin trước khi dùng.

5. Thời kỳ mang thai:

Không có nghiêm cứu đầy đủ trên người mang thai, nên không sử dụng dobutamin trong thời kỳ mang thai trừ khi lợi ích vượt trội so với tiềm năng nguy cơ cho thai.

6. Thời kỳ cho con bú:

Chưa có nghiên cứu dobutamin có phân bố vào sữa mẹ hay không nên ngừng cho con bú trong thời gian dùng thuốc.

7. Tác dụng không mong muốn (ADR):

Tất cả những ADDR đều phụ thuộc vào liều và có thể kiểm soát bằng việc giảm tốc độ tiêm truyền.

Người bệnh rung nhĩ có nguy cơ tăng rõ rệt nhịp thất. Một số người bệnh có thể phát sinh ngoại tâm thu thất.

Dobutamin có khả năng làm tăng mức độ nghiêm trọng của nhồi máu cơ tim do làm tăng nhu cầu oxy của tim.

Việc sử dụng lặp lại dài hạn những thuốc tăng co cơ tim có ảnh hưởng tiêu cực đối với tình trạng của bệnh suy tim sung huyết mạn tính.

Có ghi nhận về sự quen thuốc nếu liên tục tiêm truyền dobutamin kéo dài 72 giờ hoặc hơn. Vì vậy, có thể phải dùng liều cao hơn để duy trì tác dụng như trước.

Hình: nguồn internet

Thường gặp:

Tăng huyết áp tâm thu, tăng tần số tim, ngoại tâm thu thất, đau thắt ngực, đau ngực lan tỏa, đánh trống ngực.

Buồn nôn.

Thở nhanh nông.

Ít gặp:

Viêm tắc tĩnh mạch

Viêm tại chỗ trong trường hợp tiêm thuốc ra ngoài mạch máu.

Lưu ý:

Đa số người bệnh có đáp ứng tăng huyết áp tam thu lên 10 – 20mmHg, và tần số tim thường tăng lên 5 – 15 nhịp mỗi phút.

Ở những người bệnh có ngoại tâm thu thất, có thể có một số ít trường hợp có nhịp nhanh thất. Dobutamin làm giảm nồng độ kali trong huyết tương, và có thể dẫn đến hiện tượng hạ kali.

8. Tương tác thuốc:

Giảm tác dụng: Những thuốc phong bế beta – adrenergic dùng đồng thời làm giảm tác dụng của dobutamin, dẫn đến làm tăng sức cản ngoại biên.

Tăng độc tính: Thuốc gây mê ( halothan hoặc cyclopropan) dùng đồng thời với những liều thông thường của dobutamin có thể gây loạn nhịp thất nặng.

9. Tương kỵ:

Dobutamin tương kỵ với các dung dịch kiềm như natri bicarbonate.

Tương kỵ với các thuốc có tính kiềm như aminophylin, furosemide, natri thiopental.

Tương kỵ vật lý bumetanid, calci gluconat, insulin, diazepam, phenytoin.

Đã có báo cáo về tương kỵ với alteplase, heparin, natri warfarin.

10. Quá liều và xử trí:

Những triệu chứng quá liều là tăng huyết áp hoặc nhịp tim nhanh. Phải giảm tốc độ tiêm truyền dobutamin hoặc ngừng tiêm truyền cho tới khi tình trạng ổn định trở lại.

Bệnh viện Lê Văn Thịnh với đội ngũ Y Bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, tận tâm và luôn lấy Người bệnh làm trung tâm cho mọi hoạt động, nếu Người bệnh có vấn đề sức khỏe, hay cần biết thêm thông tin hãy đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh để được tư vấn, thăm khám và điều trị.

Dược sĩ Lương Ngọc Khánh Ngân

(Tài liệu tham khảo: Theo tờ hướng dẫn từ nhà sản xuất)


Picture1-1.png

Hoạt chất : Ticagrelor.

Loại thuốc : Thuốc chống kết tập tiểu cầu.

Dạng thuốc – Hàm lượng : viên nén bao phim: 60mg, 90mg, viên nén: 90mg.

Ảnh minh họa: nguồn Internet.
Công dụng :

Phòng ngừa tử vong tim mạch, nhồi máu cơ tim và đột quỵ ở người bệnh có hội chứng mạch vành cấp (đau thắt ngực không ổn định, nhồi máu cơ tim ST chênh hoặc không chênh lên) hoặc tiền sử nhồi máu cơ tim.

Giảm tỷ lệ tắc stent ở người bệnh can thiệp mạch vành qua da để điều trị hội chứng mạch vành cấp.

Liều dùng – Cách dùng :

Liều tải 180 mg (ngày đầu), liều duy trì: 90 mg × 2 lần/ngày. (Phối hợp với aspirin liều 75 – 100 mg).

Thời gian duy trì: ít nhất 6 – 12 tháng, tùy theo đánh giá lâm sàng (nguy cơ thuyên tắc và nguy cơ chảy máu).

Không cần hiệu chỉnh liều trên người bệnh suy thận.

Chống chỉ định :

Chảy máu bệnh lý hoạt động và tiền sử chảy máu nội sọ.

Giảm chức năng gan và kết hợp với các thuốc ảnh hưởng mạnh đến hoạt động của men gan CYP3A4, vì thuốc được chuyển hóa qua CYP3A4 (như ketoconazole, clarithromycin, nefazodone, ritonavir và atazanavir) và bài tiết qua gan.

Đang bị các bệnh lý chảy máu.

Quá mẫn với các thành phần của thuốc.

Thận trọng :

Người bệnh block nhĩ thất độ II – III, acid uric máu cao hoặc tiền sử bệnh gout, người bệnh COPD, hen suyễn, suy gan trung bình.

Tránh sử dụng đồng thời với các thuốc ức chế CYP 3A4 mạnh (ketoconazole, clarithromycin, nefazodon, ritonavir, atazanavir).

Ngừng thuốc sớm có thể tăng nguy cơ huyết khối tắc mạch trong stent. Khi phối hợp với aspirin, liều aspirin nên ≤ 100 mg.

Ticagrelor chưa được nghiên cứu an toàn ở trẻ em.

Tác dụng không mong muốn (ADR) :

Khó thở (thường gặp), buồn nôn, tiêu chảy, đau ngực không do tim, ngừng thất, chậm nhịp tim, khó thở, ngất, chóng mặt, tăng creatinin tạm thời, tăng acid uric máu, chảy máu cam, chảy máu chân răng.

Đến ngay cơ sở y tế nếu khó thở kéo dài, nặng hoặc nôn/ho ra máu, nước tiểu sẫm màu hoặc đi ngoài phân đen.

Tương tác :

Tránh uống nước ép bưởi chùm vì có thể làm tăng nguy cơ chảy máu.

Phụ nữ có thai và cho con bú : Tránh sử dụng.

Bệnh viện Lê Văn Thịnh với đội ngũ Y Bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, tận tâm và luôn lấy Người bệnh làm trung tâm cho mọi hoạt động, nếu Người bệnh có vấn đề về sức khỏe, hay cần biết thêm thông tin hãy đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh để được tư vấn, thăm khám và điều trị.

       Dược sĩ Đinh Khắc Thành Đô

(Nguồn : Drugbank.vn, Tờ hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất)


Picture5-1.png

Tên chung quốc tế: Candesartan + hydrochlorothiazid
Mã ATC: C09DA06.
Phân loại: Thuốc điều trị tăng huyết áp. Dạng kết hợp
Dạng thuốc và hàm lượng: Viên nén Candesartan cilexetil 16mg và Hydroclorothiazid 12,5mg.
Ảnh minh họa: nguồn Internet.
Dược lí :

Thuốc Cancetil Plus có thành phần gồm Candesartan cilexetil 16mg và Hydroclorothiazid 12,5mg.

Trong đó, Candesartan cilexetil là 1 thuốc chẹn thụ thể angiotensin II. Candesartan cilexetil là tiền dược, có ít tác dụng cho tới khi được hydro hóa trong quá trình hấp thu ở đường tiêu hóa, tạo thành Candesartan (chất có hoạt tính). Candesartan điều trị tăng huyết áp bằng cách chẹn receptor AT1 của angiotensin II.

Còn Hydroclorothiazid là thuốc lợi tiểu thiazid, có tác dụng làm tăng bài tiết natri clorid và nước kèm theo (nhờ cơ chế ức chế tái hấp thu các ion natri và clorid ở ống lượn xa). Hydroclorothiazid có tác dụng hạ huyết áp nhờ khả năng giảm thể tích huyết tương và dịch ngoại bào liên quan tới sự bài niệu natri. Ngoài ra, các thiazid còn có tác dụng lợi tiểu vừa phải.

Chỉ định :

Điều trị tăng huyết áp: Không khuyến cáo dùng dạng phối hợp trong điều trị khởi đầu.

Chống chỉ định :
  • Bệnh nhân quá mẫn với thành phần Candesartan, Hydroclorothiazid, các dẫn xuất Sulfonamide khác, thành phần khác của thuốc;
  • Người mắc bệnh gout, chứng vô niệu, tăng acid uric huyết, tăng calci huyết, bệnh Addison;
  • Người bệnh suy gan nặng, ứ mật, suy thận nặng;
  • 3 tháng giữa và cuối thai kỳ;
  • Phối hợp vớiAliskiren ở bệnh nhân tiểu đường.
Cách dùng – liều dùng :

Cách dùng: Đường uống.

Liều dùng: Liều khởi đầu khuyến nghị là 1 viên/ngày ở bệnh nhân không suy giảm thể tích dịch. Có thể tăng liều tối đa là 2 viên/ngày. Người bệnh uống thuốc cùng với thức ăn hoặc không cùng thức ăn, có thể phối hợp thuốc với thuốc hạ huyết áp khác.

Lưu ý :

  • Hydroclorothiazid có hiệu quả ở liều 12,5 – 50mg/lần/ngày;
  • Nên điều chỉnh liều dùng thuốc Cancetil Plus dựa trên hiệu quả lâm sàng. Tác dụng hạ huyết áp tối đa (với bất kỳ liều lượng nào) có thể đạt được sau 4 tuần sử dụng liều đó;
  • Không dùng thuốc Cancetil Plus nếu độ thanh thảicreatinin (ClCr) dưới 30ml/phút;
  • Bệnh nhân suy gan trung bình: Không khuyến cáo dùng thuốc để khởi đầu điều trị vì không thể đạt được liều khởi đầu thích hợp của Candesartan là 8mg;
  • Để giảm tác dụng phụ liên quan tới liều dùng thuốc, chỉ nên phối hợp thuốc Cancetil Plus nếu không đạt được hiệu quả mong muốn khi dùng đơn độc. Có thể phối hợp thuốc thay vì điều chỉnh liều dùng mỗi thành phần.

Bên cạnh đó, triệu chứng quá liều của Candesartan thường là: chóng mặt, hạ huyết áp, nhịp tim nhanh hoặc nhịp tim chậm. Triệu chứng quá liều thường gặp của Hydroclorothiazid là giảm chất điện giải (hạ natri, hạ kali, hạ clorid) và mất nước do lợi tiểu quá mức. Nếu sử dụng chung với digitalis thì tình trạng hạ kali có thể gây loạn nhịp tim.

Khi xử trí quá liều thuốc Cancetil Plus, nên cân nhắc tới khả năng quá liều nhiều loại thuốc, tình trạng tương tác thuốc và những thay đổi dược động ở bệnh nhân. Nếu xảy ra hạ huyết áp triệu chứng thì nên áp dụng những biện pháp điều trị hỗ trợ.

Tác dụng phụ :

Khi sử dụng thuốc Cancetil Plus, người bệnh có thể gặp phải một số tác dụng phụ như:

  • Toàn thân: Mệt mỏi, suy nhược, đau ngực,đau lưng, phù ngoại biên, triệu chứng giả cúm, hoa mắt, chóng mặt, dị cảm, giảm cảm giác, lo âu, mất ngủ, trầm cảm;
  • Tiêu hóa: Đau bụng, buồn nôn, khó tiêu, tiêu chảy, nôn ói, viêm dạ dày – ruột, vàng da, viêm tụy,viêm tuyến nước bọt, táo bón, chuột rút, chán ăn, kích thích dạ dày, viêm gan, chức năng gan bất thường, tăng transaminase;
  • Hô hấp: Viêm xoang, viêm họng, viêm phế quản, viêm mũi, ho, khó thở;
  • Cơ – xương – khớp: Đau cơ, đau khớp, viêm khớp, hư khớp, đau thần kinh tọa, chuột rút ở chân, co thắt cơ, tiêu cơ vân (hiếm gặp);
  • Chuyển hóa: Tăng đường huyết, hạ natri và kali,tăng acid uric, tăng BUN và creatine phosphokinase;
  • Tim mạch: Nhịp tim nhanh, ngoại tâm thu thất, đau thắt ngực, chậm nhịp tim, nhồi máu cơ tim, phù mạch, ECG bất thường;
  • Da: Đổ mồ hôi, chàm da, ngứa da, viêm da, mề đay, phát ban, ban đỏ đa dạng, viêm da tróc vảy, rụng tóc, hoại tử thượng bì nhiễm độc,hội chứng Stevens-Johnson;
  • Huyết học: Giảm bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính, mất bạch cầu hạt, chảy máu cam,thiếu máu bất sản, giảm tiểu cầu, thiếu máu tán huyết;
  • Miễn dịch: Nhiễm virus, nhiễm trùng;
  • Quá mẫn: Viêm mạch, phản ứng phản vệ, suy hô hấp (viêm phổi, phù phổi), mề đay, ban xuất huyết, nhạy cảm với ánh sáng;
  • Khác:Ù tai, viêm kết mạc, mờ mắt thoáng qua, thấy sắc vàng, bất lực.

Khi gặp các tác dụng phụ của thuốc Cancetil Plus, người bệnh nên ngay lập tức báo cho bác sĩ để biết các bước xử trí tiếp theo sao cho phù hợp.

Lưu ý :

Bệnh nhân có thể xảy ra tình trạng hạ huyết áp triệu chứng, đặc biệt là khi bị giảm thể tích dịch hoặc muối do chế độ ăn thiếu muối, lọc máu, dùng thuốc lợi tiểu kéo dài, tiêu chảy hoặc nôn mửa. Lúc này, nên giảm liều dùng thuốc Cancetil Plus hoặc khôi phục lại thể tích dịch. Nên khôi phục tình trạng giảm thể tích dịch hoặc muối trước khi điều trị bệnh;

Ở bệnh nhân suy tim, thuốc Cancetil Plus có thể gây hạ huyết áp quá mức, dẫn tới chứng nitơ huyết, thiểu niệu, suy thận cấp và tử vong (hiếm gặp). Nên bắt đầu điều trị dưới sự giám sát sức khỏe chặt chẽ, đặc biệt là trong 2 tuần đầu dùng thuốc và mỗi khi tăng liều thuốc;

Theo dõi chức năng thận định kỳ trong suốt quá trình điều trị với thuốc Cancetil Plus. Người có chức năng thận phụ thuộc 1 phần vào hoạt động của hệ renin – angiotensin (RAS) như hẹp động mạch thận, suy tim nặng, bệnh thận mãn tính, suy giảm thể tích dịch thì có thể có nguy cơ bị thiểu niệu, nitơ huyết tiến triển, suy thận cấp,… Nên cân nhắc tới việc tiếp tục hoặc ngưng sử dụng thuốc Cancetil Plus ở bệnh nhân suy thận đáng kể trên lâm sàng;

Candesartan trong thuốc Cancetil Plus có thể gây tăng kali máu. Hydroclorothiazid có thể gây hạ natri và kali máu. Nên định kỳ theo dõi điện giải huyết thanh, tránh dùng chung thuốc này với các chế phẩm bổ sung kali hoặc các muối chứa kali;

Hydroclorothiazid có thể dẫn tới cận thị thoáng qua cấp tính, tăng nhãn áp,góc đóng cấp tính. Các triệu chứng thường gặp gồm đau mắt, giảm thị lực đột ngột (thường xảy ra khi mới dùng thuốc, trong vòng vài giờ hoặc vài tuần). Nếu xảy ra những triệu chứng trên thì bệnh nhân nên ngưng dùng thuốc Hydroclorothiazid càng sớm càng tốt;

Có thể xảy ra các phản ứng quá mẫn với Hydroclorothiazid, đặc biệt là ở người có tiền sử dị ứng hoặc hen phế quản;

Hydroclorothiazid có thể làm thay đổi sự dung nạp glucose, tăng cholesterol và triglycerid máu. Thuốc cũng có thể làm tăng acid uric máu do làm giảm độ thanh thải, có thể gây tăng acid uric nhiều, dẫn tới gút ở bệnh nhân nhạy cảm;

Các thiazid làm giảm bài tiết calci ở thận, có thể gây tăng nhẹ calci máu. Do đó, tránh dùng thuốc Cancetil Plus cho người bệnh tăng calci máu;

Thiazid có thể kích hoạt, làm trầm trọng thêm tình trạng lupus ban đỏ hệ thống nên người bệnh cần thận trọng;

Có thể xảy ra nguy cơ chóng mặt khi sử dụng thuốc Cancetil Plus. Vì vậy, cần thận trọng khi lái xe, vận hành máy móc;

Không khuyến cáo dùng thuốc Candesartan và Hydroclorothiazid trong 3 tháng đầu thai kỳ. Chống chỉ định sử dụng Candesartan trong 3 tháng giữa và 3 tháng cuối thai kỳ. Khi phát hiện có thai, nên ngừng thuốc ngay lập tức, sử dụng biện pháp điều trị thay thế khác nếu được;

Không sử dụng thuốc Cancetil Plus ở bà mẹ đang cho con bú. Nên cân nhắc việc ngưng dùng thuốc hoặc ngưng cho con bú (tùy thuộc vào tầm quan trọng của thuốc đối với bà mẹ).

Tương tác :

Tương tác với Candesartan cilexetil và Hydroclorothiazid:

  • Sử dụng đồng thời thuốc Cancetil Plus với thuốc kháng viêm không steroid (kể cả chất ức chế chọn lọc COX-2) có thể làm giảm tác dụng hạ huyết áp, giảm chức năng thận có hồi phục (kể cả suy thận cấp), đặc biệt ở người già, giảm thể tích dịch, tổn thương chức năng thận;
  • Sử dụng đồng thời thuốc Cancetil Plus với Lithi làm tăng độc tính của Lithi (Candesartan làm tăng nồng độ Lithi trong huyết thanh Hydroclorothiazid làm giảm độ thanh thải của Lithi);
  • Sử dụng đồng thời thuốc Cancetil Plus với các thuốc hạ huyết áp khác gây tác dụng cộng gộp.

Tương tác với Candesartan cilexetil:

  • Dùng đồng thời Candesartan cilexetil với thuốc chẹn thụ thể angiotensin, ức chế men chuyển angiotensin, aliskiren làm tăng nguy cơ hạ huyết áp, tăng kali máu, thay đổi chức năng thận (gồm cả suy thận cấp). Nên theo dõi chặt chẽ huyết áp, điện giải và chức năng thận khi phối hợp các thuốc tác động lên renin – angiotensin;
  • Có thể phối hợp Candesartan cilexetil với thuốc chẹn beta, lợi tiểu, digitalis hoặc phối hợp các thuốc này. Không phối hợp với thuốc ức chế men chuyển angiotensin, thuốc lợi tiểu giữ kali (spironolacton), chỉ nên phối hợp sau khi đã cẩn thận đánh giá giữa lợi ích và nguy cơ;
  • Nếu dùng đồng thời Candesartan cilexetil với thuốc lợi tiểu giữ kali, muối thế chứa kali, chế phẩm bổ sung kali, các thuốc khác (heparin) có thể làm tăng kali máu;
  • Không phối hợp Candesartan cilexetil với aliskiren ở bệnh nhân tiểu đường, người bệnh suy thận (có GFR < 60 mL/phút).

Tương tác với Hydroclorothiazid:

  • Sử dụng đồng thời Hydroclorothiazid vớirượu, narcotic, barbiturat có thể gây hạ huyết áp tư thế;
  • Sử dụng đồng thời Hydroclorothiazid với thuốc trị tiểu đường dạng uống và insulin thì nên giảm liều các thuốc này;
  • Sử dụng đồng thời Hydroclorothiazid với các nhựa cholestyramin và colestipol có thể làm giảm sự hấp thu của Hydroclorothiazid. Nên uống Hydroclorothiazid trước ít nhất 4 giờ hoặc 4 – 6 giờ sau khi dùng các chế phẩm trên;
  • Sử dụng đồng thời Hydroclorothiazid với Corticosteroid, ACTH làm tăng tình trạng suy giảm các chất điện giải (hạ kali máu);
  • Sử dụng đồng thời Hydroclorothiazid với glycosid tim: Thiazid sẽ làm hạ kali hoặc magie máu, dễ gây loạn nhịp tim do digitalis;
  • Sử dụng đồng thời Hydroclorothiazid với các amin gây tăng huyết áp (noradrenalin) làm giảm tác dụng của các amin này;
  • Sử dụng đồng thời Hydroclorothiazid với thuốc giãn cơ vân không khử cực (tubocurarin) sẽ làm tăng tác dụng của các thuốc này;
  • Sử dụng đồng thời Hydroclorothiazid với thuốc trị gout: Nên điều chỉnh liều dùng các loại thuốc;
  • Sử dụng đồng thời Hydroclorothiazid với muối canxi sẽ làm tăng calci máu do giảm bài tiết;
  • Sử dụng đồng thời Hydroclorothiazid với carbamazepin làm tăng nguy cơ hạ natri máu triệu chứng;
  • Các thuốc khác: Thuốc chẹn beta, diazoxid (làm tăng đường huyết); amantadin (thiazid làm tăng nguy cơ gặp tác dụng phụ của amantadin); thuốc kháng cholinergic như atropin, biperiden (làm tăng sinh khả dụng của thiazid do làm giảm nhu động ruột và giảm tốc độ làm rỗng dạ dày); thuốc độc tế bào như cyclophosphamid, methotrexat (làm giảm thải trừ các thuốc qua thận và làm tăng ức chế tủy).

Bệnh viện Lê Văn Thịnh với đội ngũ Y Bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, tận tâm và luôn lấy Người bệnh làm trung tâm cho mọi hoạt động, nếu Người bệnh có vấn đề về sức khỏe, hay cần biết thêm thông tin hãy đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh để được tư vấn, thăm khám và điều trị

     Dược sĩ Đinh Khắc Thành Đô

(Nguồn: Drugbank.vn, Tờ HDSD của nhà sản xuất)


Picture15-1.png

Ảnh minh họa: nguồn Internet.

Các dạng khác nhau của rối loạn tuần hoàn máu não:

+Tình trạng sau đột quỵ

+ Sa sút trí tuệ có nguyên nhân mạch

+ Xơ vữa động mạch não

+ Bệnh não sau chấn thương và do tăng huyết áp

+ Thoái hóa hệ sống nền.

Rối loạn mao mạch mãn tính của võng mạc và mạch mạc.

Bệnh giảm thính lực kiểu tiếp nhận, bệnh Meniere, ù tai.

2. Liều dùng:

5-10mg x 3 lần/ngày.

Không cần điều chỉnh liều cho người bệnh gan, thận.

3. Chống chỉ định:

Phụ nữ có thai hoặc cho con bú.

4. Dược lực học:

Vinpocetine là một chất có cơ chế tác đông phức hợp, có tác động thuận lợi trên chuyển hóa ở não và lưu lượng máu não, cũng như lên các đặc tính lưu biến của não.

Vinpocetine bảo vệ tế bào thần kinh:

Giúp tăng thu nhận và sử dụng glucose, oxy; tăng sức chịu đựng với tình trạng thiếu oxy của tế bào não; tăng vận chuyển glucose qua hang rào máu não; ức chế chọn lọc enzyme cGMP – phosphodiesterase; gia tăng mức cAMP và cGMP ở não. Thuốc làm tăng nồng độ ATP và tỷ lệ ATP/AMP; tăng lưu chuyển norepinephrine và serotonin của não; kích thích hệ noradrenergic hướng lên. Kết quả của tất cả những tác động trên giúp vinpocetine có tác dụng bảo vệ não.

Vinpocetine cải thiện đáng kể vi tuần hoàn não:

Thuốc ức chế kết tập tiểu cầu; giảm sự tăng độ nhớt máu bệnh lý; tăng sự biến dạng hồng cầu và ức chế thu nhận adenosine của hồng cầu; tăng chuyển oxy vào mô não bằng cách giảm ái lực oxy với hồng cầu.

Vinpocetine làm tăng tuần hoàn não một cách chọn lọc:

Thuốc làm tim tăng bơm máu lên não; giảm sức kháng mạch não mà không ảnh hưởng đến các thông số của tuần hoàn toàn thân ( huyết áp, cung lượng tim, nhịp tim, tổng sức kháng ngoại biên ); không gây ra tác dụng chiếm đoạt máu. Hơn thế nữa, trong thời gian điều trị, thuốc còn làm tăng cung cấp máu cho vùng não bị tổn thương ( nhưng chưa hoại tử ) được tưới máu ít ( nghịch đảo tác dụng chiếm đoạt máu).

5. Đặc tính dược động học:

Hấp thu:

Vinpocetine được hấp thu nhanh, nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được 1 giờ sau khi uống. Vị trí hấp thu chính là ở phần trên của ống tiêu hóa. Thuốc không bị chuyển hóa khi đi qua thành ruột.

Phân bố:

Nghiên cứu dùng thuốc đường uống cho chuột cống dùng đồng vị phóng xạ, vinpocetine được phát hiện có nồng độ cao trong gan và bộ máy tiêu hóa. Nồng độ thuốc cao nhất ở mô đo được vào giờ thứ 2 – 4 sau khi uống.

Ở người, 66% vinpocetine gắn kết với protein. Sinh khả dụng đường uống là 7%. Trị số thanh thải của vinpocetine 66,7 lít/ giờ, vượt quá trị số huyết tương của gan ( 50 lít/ giờ) cho thấy có sự chuyển hóa ngoài gan.

Chuyển hóa:

Chất chuyển hóa chính của vinpocetine là acid apovincaminic ( AVA), chiếm khoảng 25 – 30% khi dùng cho người. Những chất chuyển hóa xa hơn đã được xác định là hydroxy-vinpocetine, hydroxy – AVA, dihydroxy – AVA – glycinat và các chất liên hợp của chúng với glucuronid hoặc sulfat.

Thải trừ:

Acid apovincaminic được thải trừ qua thận bởi quá trình lọc đơn thuần ở cầu thận, thời gian bán thải tùy thuộc liều dùng và đường dùng.

6. Tương tác của thuốc:

Khi dùng kết hợp vinpocetine với alphamethydopa có xảy ra cộng hưởng hạ huyết áp mức nhẹ nên kiểm tra huyết áp thường khi dùng kết hợp 2 thuốc này.

Khi dùng vinpocetine với thuốc chẹn beta như cloranolol và pindolol, với clopamide, glibenclamide, digoxin, acenocoumarol hoặc hydrocholothiazide, không gặp tương tác thuốc.

7. Tác dụng không mong muốn:

_Đau đầu, choáng váng, chóng mặt, buồn ngủ.

_Buồn nôn, khô miệng, bất ổn vùng bụng.

_Cảm giác nóng, hạ huyết áp.

8. Quá liều và cách xử trí:

Theo y văn, dùng lâu dài liều hằng ngày 60mg vẫn an toàn; ngay cả sau khi dùng liều đơn 360mg vinpocetine, cũng không gây tác dụng bất lợi đáng kể nào trên hệ tim mạch hay bất kỳ cơ quan nào khác.

Bệnh viện Lê Văn Thịnh với đội ngũ Y Bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, tận tâm và luôn lấy Người bệnh làm trung tâm cho mọi hoạt động, nếu Người bệnh có vấn đề sức khỏe, hay cần biết thêm thông tin hãy đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh để được tư vấn, thăm khám và điều trị.

Lương Ngọc Khánh Ngân

Tài liệu tham khảo: Theo tờ hướng dẫn từ nhà sản xuất


Thông Tin Liên Hệ

BỆNH VIỆN LÊ VĂN THỊNH
Địa chỉ: 130 Lê Văn Thịnh, phường Bình Trưng, thành phố Hồ Chí Minh
Điện thoại: 1900633878
Email: bvlvthinh.tpthuduc@tphcm.gov.vn
Thời gian làm việc:
- Trong giờ: 06:00 - 16:30
- Ngoài giờ: 16:30 - 19:00
Cấp cứu: 24/7

Bản Quyền © 2021 Bệnh Viện Lê Văn Thịnh - Thiết Kế và Phát Triển bởi Hân Gia Group