sulfasalazin.png

29 Tháng Sáu, 2023 Tin TứcTruyền Thông
Tên chung quốc tế: Sulfasalazine.
Mã ATC: A07E C01.
Loại thuốc: Sulfonamid kháng khuẩn.
Dạng thuốc và hàm lượng
Viên nén 500 mg, viên bao tan trong ruột 500 mg.
Ðạn trực tràng 500 mg.
Hỗn dịch uống 250 mg/5 ml.
Ảnh minh họa: nguồn Internet
Dược lý và cơ chế tác dụng

Sulfasalazin là sulfonamid tổng hợp bằng diazo hóa sulfapyridin và ghép đôi muối diazoni với acid salicylic. Sulfasalazin được coi là một tiền dược chất, do liên kết diazo khi vào cơ thể bị phân cắt tạo thành sulfapyridin và acid 5 – aminosalicylic (mesalamin). Cơ chế tác dụng của thuốc có thể là do những chất chuyển hóa của sulfasalazin đạt nồng độ trong ruột cao hơn khi uống chính các chất chuyển hóa này. Hiệu quả điều trị ở ruột có thể do tác dụng kháng khuẩn của sulfapyridin hoặc tác dụng chống viêm tại chỗ của acid 5 – aminosalicylic khi những chất này đến đại tràng. Ngoài ra, tác dụng của thuốc có thể còn do tác động của sulfasalazin: Làm thay đổi kiểu cách tổ chức trong hệ vi sinh vật đường ruột, làm giảm Clostridium và E. coli trong phân, ức chế tổng hợp prostaglandin là chất gây ỉa chảy và tác động đến vận chuyển chất nhầy, làm thay đổi sự bài tiết và hấp thu các dịch và các chất điện giải ở đại tràng và/hoặc ức chế miễn dịch.

Dược động học

Sulfasalazin được hấp thu kém: Khoảng 2 – 10% liều uống vào được tuần hoàn. Phần còn lại bị vi khuẩn ở đại tràng tách ra thành sulfapyridin và mesalamin (5 – ASA). Phần lớn sulfapyridin (60 – 80%) và khoảng 25% mesalamin được hấp thu ở đại tràng. Sự liên kết với protein huyết tương: Sulfasalazin khoảng 99%; sulfapyridin khoảng 50% và mesalamin khoảng 43%. Sulfapyridin chuyển hóa ở gan và bài tiết qua nước tiểu. Sau liều uống sulfasalazin, khoảng 91% được tìm thấy ở nước tiểu trong 3 ngày dưới dạng sulfapyridin và các chất chuyển hóa của nó và một lượng nhỏ sulfasalazin. Mesalamin được thải trừ chủ yếu qua phân. Chỉ một lượng nhỏ được hấp thu, chuyển hóa và bài tiết qua nước tiểu dưới dạng N – acetylmesalamin.

Chỉ định

Viêm loét đại tràng.

Bệnh Crohn thể hoạt động.

Viêm khớp dạng thấp ở người bệnh không đáp ứng với các thuốc giảm đau và thuốc chống viêm không steroid.

Chống chỉ định

Trường hợp quá mẫn với sulfasalazin, sulfonamid hoặc salicylat.

Loạn chuyển hóa porphyrin.

Suy gan hoặc thận; tắc ruột hoặc tắc tiết niệu; trẻ em dưới 2 tuổi (vì thuốc có thể gây bệnh vàng da nhân).

Thận trọng

Người bệnh có tiền sử loạn tạo máu như mất bạch cầu hạt, thiếu máu không tái tạo.

Người bệnh thiếu hụt glucose – 6 phosphat dehydrogenase.

Người bệnh dị ứng nặng.

Phụ nữ mang thai và cho con bú.

Thận trọng khi dùng đồng thời với các thuốc khác: Thuốc chống đông cumarin hoặc dẫn chất indandion, các thuốc gây tan máu, các thuốc độc với gan và methotrexat.

Phải kiểm tra công thức hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu, chức năng gan, thận khi bắt đầu điều trị, mỗi tháng kiểm tra một lần trong 3 tháng đầu điều trị.

Thời kỳ mang thai

Sulfasalazin và sulfapyridin đi qua nhau thai. Chưa có đầy đủ các nghiên cứu đối với phụ nữ mang thai. Một vài nghiên cứu cho thấy sulfasalazin có thể gây dị dạng cho bào thai, nên cần phải thận trọng khi dùng sulfasalazin cho phụ nữ mang thai và phải bổ sung acid folic (xem thêm phần tương tác thuốc).

Thời kỳ cho con bú

Sulfasalazin bài tiết vào sữa mẹ với lượng nhỏ, nồng độ bằng khoảng 30 – 60% trong huyết thanh mẹ. Tuy nhiên, sulfonamid ở liều thấp cũng gây thiếu máu tan máu nặng ở trẻ sơ sinh bị thiếu hụt glucose – 6 phosphat dehydrogenase. Do vậy, phải cực kỳ thận trọng khi dùng thuốc đối với bà mẹ đang cho con bú.

Tác dụng không mong muốn (ADR)

Nói chung, ít gặp những tác dụng không mong muốn nặng gây ra bởi sulfasalazin, nhưng những phản ứng nhẹ thì xảy ra thường xuyên. Khoảng 75% các phản ứng có hại xảy ra trong vòng 3 tháng đầu điều trị, đặc biệt khi liều dùng vượt quá 4g/ngày, hoặc khi nồng độ sulfapyridin trong huyết thanh cao hơn 50 microgam/ml. Những phản ứng như chán ăn, buồn nôn, nôn, rối loạn tiêu hóa và đau đầu xảy ra ở 1/3 số người bệnh và liên quan đến liều sulfapyridin trong huyết thanh.

Thường gặp, ADR >1/100

Toàn thân: Ðau đầu, sốt, chán ăn.

Máu: Giảm bạch cầu, thiếu máu tan máu, chứng đại hồng cầu.

Tiêu hóa: Ðau bụng, buồn nôn, đau thượng vị.

Da: Ngoại ban, nổi mày đay, ngứa, ban đỏ.

Gan: Tăng nhất thời transaminase.

Phản ứng khác: Giảm tinh trùng có hồi phục.

Ít gặp, 1/1000 < ADR < 1/100

Toàn thân: Mệt mỏi.

Máu: Mất bạch cầu hạt.

Tâm thần: Trầm cảm.

Tai: Ù tai.

Hiếm gặp, ADR <1/1000

Miễn dịch: Bệnh huyết thanh, phù mạch.

Máu: Giảm toàn thể huyết cầu, mất bạch cầu hạt, giảm tiểu cầu, thiếu máu nguyên đại hồng cầu.

Tiêu hóa: Viêm tụy.

Da: Luput ban đỏ toàn thân, hoại tử biểu bì (hội chứng Lyell), hội chứng Stevens – Johnson, viêm da tróc vảy, nhạy cảm ánh sáng.

Gan: Viêm gan

Hô hấp: Viêm phế nang xơ hóa, suy hô hấp, ho.

Cơ xương: Ðau khớp.

Thần kinh: Bệnh thần kinh ngoại vi, viêm màng não vô khuẩn.

Tiết niệu: Hội chứng thận hư, protein niệu, hồng cầu niệu, tinh thể niệu.

Phản ứng khác: Nhận thức về mùi, vị bị thay đổi.

Nhận xét

Người bệnh có tiền sử luput ban đỏ toàn thân, tiền sử nhiễm độc ở gan hoặc máu có liên quan tới sulfonamid thường có nguy cơ cao xảy ra các tác dụng không mong muốn nặng khi điều trị lại với sulfonamid. Những trường hợp viêm màng não vô khuẩn chỉ thấy thông báo ở những người bệnh đã có bệnh khớp dạng thấp.

Hướng dẫn cách xử trí ADR

Cần ngừng thuốc ngay khi có phản ứng mẫn cảm, và cho dùng các thuốc kháng histamin hoặc corticoid.

Liều lượng và cách dùng

Viêm loét đại tràng

Người lớn: Bắt đầu: 0,5 – 1 g; 3 – 4 lần/ngày. Có thể giảm tác dụng phụ ở đường tiêu hóa, khi bắt đầu với liều thấp 1 – 2 g/ngày, chia làm 3 – 4 lần hoặc dùng viên bao tan trong ruột 0,5 – 1 g/ngày. Ðiều trị duy trì: 1 – 2 g/ngày, chia làm 3 – 4 lần.

Trẻ em trên 2 tuổi: Bắt đầu 40 – 60 mg/kg, chia 3 – 4 lần. Liều duy trì 20 – 30 mg/kg, chia làm 4 lần.

Bệnh Crohn:

1 – 2 g, chia 3 – 4 lần.

Viêm khớp dạng thấp

Bắt đầu dùng 500 mg/ngày trong một tuần, sau đó tăng lên 500 mg mỗi tuần, đến liều tối đa 3 g/ngày.

Sulfasalazin không có tác dụng giảm đau, vì vậy điều trị với các thuốc chống viêm không steroid hoặc thuốc giảm đau, không được giảm thuốc hoặc ngừng đột ngột cho đến khi đạt đáp ứng lâm sàng. Cần điều trị duy trì trong vài năm. Không nên dùng thuốc cho trẻ em bị viêm khớp dạng thấp.

Nên uống thuốc sau bữa ăn hoặc cùng thức ăn. Uống thuốc với một cốc nước đầy và uống thêm nhiều nước trong ngày.

Tương tác thuốc

Khả dụng sinh học của digoxin bị giảm khi dùng đồng thời với sulfasalazin. Sulfasalazin ức chế sự hấp thu, ngăn cản chuyển hóa của acid folic nên có thể dẫn đến giảm nồng độ acid folic trong huyết thanh. Khi điều trị với sulfasalazin, cần bổ sung acid folic.

Các thuốc chống đông, các thuốc chống co giật hoặc các thuốc uống chống đái tháo đường có thể bị đẩy ra khỏi vị trí gắn protein và/hoặc chuyển hóa của các thuốc này có thể bị ức chế bởi các sulfonamid dẫn đến tăng hoặc kéo dài tác dụng hoặc độc tính. Cần phải điều chỉnh liều trong và sau khi điều trị bằng sulfasalazin.

Dùng đồng thời với các thuốc gây tan máu có thể làm tăng khả năng gây độc của thuốc.

Hiệu lực của methotrexat, phenylbutazon, sulfinpyrazon có thể tăng lên khi dùng đồng thời với sulfonamid vì thuốc có thể bị đẩy ra khỏi vị trí liên kết với protein.

Ðộ ổn định và bảo quản

Bảo quản ở 15 – 30oC, thuốc viên phải được bảo quản trong lọ nút kín, đạn trực tràng phải bảo quản nơi mát.

Quá liều và xử trí

Triệu chứng

Buồn ngủ, chóng mặt, chán ăn, đau bụng, buồn nôn, nôn, sốt, thiếu máu tan máu.

Ðiều trị

Ngừng dùng thuốc ngay khi có phản ứng quá mẫn cảm xảy ra. Có thể cho dùng thuốc kháng histamin hoặc corticoid để hạn chế dị ứng.

Không có thuốc giải độc đặc hiệu.

Cách xử trí là rửa dạ dày, gây nôn, hoặc cho dùng thuốc tẩy khi cần. Kiềm hóa nước tiểu. Thúc đẩy lợi niệu nếu chức năng thận bình thường.

Bệnh viện Lê Văn Thịnh với đội ngũ Y Bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, tận tâm và luôn lấy Người bệnh làm trung tâm cho mọi hoạt động, nếu Người bệnh có vấn đề về sức khỏe, hay cần biết thêm thông tin hãy đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh để được tư vấn, thăm khám và điều trị.

Dược sĩ

Trương Thị Hiền

(Theo tờ hướng dẫn sử dụng của Nhà sản xuất)


ertapenem.png

29 Tháng Sáu, 2023 Tin TứcTruyền Thông
Ảnh minh họa: nguồn Internet.
Dạng bào chế – biệt dược

Bột pha tiêm: Invanz 1 g.

Nhóm thuốc – Tác dụng

Kháng sinh carbapenem.

Chỉ định

Nhiễm khuẩn vừa đến nặng do vi khuẩn nhạy cảm: Nhiễm khuẩn ổ bụng có biến chứng,nhiễm khuẩn da và tổ chức da có biến chứng,viêm phổi cộng đồng, nhiễm khuẩn tiết niệu có biến chứng (gồm viêm bể thận), nhiễm khuẩn vùng chậu cấp (bao gồm viêm nội mạc tử cung sau sinh, nạo thai nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn phụ khoa sau mổ),nhiễm khuẩn huyết.

Chống chỉ định:Quá mẫn với thành phần của thuốc.
Thận trọng

Quá mẫn với penicillin hoặc các kháng sinh nhóm betalactam khác, tiền sử co giật hoặc các rối loạn thần kinh trung ương, đang sử dụng các thuốc làm giảm ngưỡng co giật (baclofen, ciprofloxacin, theophylline…).

Tác dụng không mong muốn

Thường gặp: Nhức đầu, biến chứng tĩnh mạch tại chỗ tiêm, viêm tĩnh mạch , viêm tĩnh mạch huyết khối, tiêu chảy, buồn nôn, nôn. 

Ít gặp: Sốt, mệt mỏi, đau, hạ huyết áp,táo bón , lú lẫn, chóng mặt, ban da, rối loạn vị giác, thay đổi chức năng gan,giảm bạch cầu , khó thở, nhiễm nấm Candida miệng, trào ngược dịch vị, tiêu chảy do Clostridium difficile.

Hiếm gặp: Co giật, ảo giác, mê sảng,sốc phản vệ.

Liều và cách dùng

Người lớn và trẻ em trên 12 tuổi: 1 g mỗi 24 giờ.

Trẻ em 3 tháng – 12 tuổi: 15 mg/kg (tối đa 500 mg) mỗi 12 giờ.

Cách dùng: Truyền tĩnh mạch: Hoàn nguyên 1 g trong 10 ml nước cất hoặc NaCl 0,9%, sau đó pha loãng với 50 ml NaCl 0,9%, truyền trong 1 – 3 giờ.

Chú ý khi sử dụng

Ertapenem là thuốc kháng sinh hạn chế cao, phải hội chẩn Ban quản lý sử dụng kháng sinh trước khi sử dụng. Dung dịch sau hoàn nguyên ổn định trong 1 giờ sau khi pha. Dung dịch truyền tĩnh mạch pha loãng với NaCl 0,9% ổn định trong 6 giờ ở 25 độ C và 24 giờ ở 5 độ C. Dùng trong vòng 4 giờ sau khi lấy ra khỏi tủ lạnh.

Phụ nữ có thai: B (FDA) (*), B2 (TGA) (**).

Phụ nữ cho con bú: Có thể dùng.

Cần hiệu chỉnh liều trên người bệnh suy thận có ClCr < 10 ml/phút.

(*) Nhóm B theo phân loại của FDA: Nghiên cứu trên động vật không thấy có nguy cơ đối với thai và chưa có nghiên cứu đối chứng trên phụ nữ có thai. Hoặc nghiên cứu trên động vật cho thấy có tác dụng không mong muốn (ngoài tác động giảm khả năng sinh sản) nhưng không được xác nhận trong các nghiên cứ có đối chứng ở phụ nữ có thai trong 3 tháng đầu và không có bằng chứng về nguy cơ trong các tháng sau.

(**) Nhóm B2 theo phân loại của TGA: Thuốc được sử dụng trên số lượng giới hạn phụ nữ có thai và phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ mà không làm tăng tần suất dị tật thai nhi hoặc gây bất kỳ ảnh hưởng xấu trực tiếp hoặc gián tiếp nào trên thai nhi được quan sát. Nghiên cứu trên động vật không đầy đủ, nhưng có những bằng chứng cho thấy không có sự tăng nguy hại trên thai nhi.

Bệnh viện Lê Văn Thịnh với đội ngũ Y Bác sĩ có trình độ chuyên môn cao,tận tâm và luôn lấy người bệnh là trung tâm cho mọi hoạt động,nếu người bệnh có vấn đề về sức khỏe,hay cần thêm thông tin hãy đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh để được tư vấn,thăm khám và điều trị.

Dược sĩ

Lưu Văn Song

(Theo hướng dẫn sử dụng của Nhà sản xuất)


cephalothin.png

29 Tháng Sáu, 2023 Tin TứcTruyền Thông

Ảnh minh họa: nguồn Internet.

Cephalothin natri
Bột pha tiêm

1. Thành phần

Mỗi lọ chứa:

Hoạt chát:

CEPHALOTHIN 500: Cephalothin 500 mg (dưới dạng Cephalothin natri).

CEPHALOTHIN 1G: Cephalothin 1 g (dưới dạng Cephalothin natri).

2. Dạng bào chế:Bột pha tiêm
3. Dược lực học và được động học

Dược lực học

Nhóm dược lý: Kháng sinh nhóm cephalosporin thế hệ thứ 1.

Ma ATC: JO1DB03

Cephalothin 14 kháng sinh nhóm cephalosporin thế hệ thứ 1. Thuốc tác dụng bằng cách ức chế tổng hợp thành tế bào vi khuẩn. Thuốc có hoạt tính tốt trên các cầu khuẩn gram dương, có hoạt tính trung bình trên các vi khuẩn gram âm. Các cầu khuẩn gram duong nhạy cảm gồm cả tụ câu khuẩn tiết và không tiết penicillinase, mặc dù tụ cầu khuẩn kháng meticillin đã kháng thuốc. Hầu hết các liên cầu khuẩn đều nhạy cảm với cephalothin, nhưng thuốc không có tác dụng trên Streptococcus pneumoniae kháng penicilin; các chủng enterococci cũng thường kháng cephalothin. Vài chủng vi khuẩn ky khí gram dương cũng nhạy cảm với

cephalothin. Cephalothin thường không có tác dụng với Listeria monocytogenes. Đối với vi khuẩn gram âm, cephalothin có hoạt tính với vài họ, vi khuẩn đường ruột kể cả chung Escherichia coli, Klebsiella  pneumoniae, Proteus mirabilis, Salmonella (trừ Salmonella gây sốt thương hàn), va Shigella spp., nhưng không có hoạt tính với Enterobacter, Proteus indol dương tính, hoặc Serratia spp. Thuốc cũng có hoạt tính đối với Moraxella catarrhalis (Branhamella catarrhalis) và Neisseria spp., mặc dù Haemophilus influenzae đề kháng trung bình. Bacteroides fragilis va Pseudomonas aeruginosa |ciing nhu mycobacteria, mycoplasma,và nấm kém nhạy cảm với thuốc.

Cũng như các kháng sinh cephalosporin khác, có sự để kháng chéo giữa cephalothin và các penicillin kháng penicillinase.

Dược động học

Cephalothin được hấp thu kém ở đường tiêu hóa, nên phải tiêm. Sau khi tiêm bắp các liều 0,5 g và 1 g, trong vòng 30 phút sẽ đạt được nồng độ đỉnh huyết tương tuong ứng là 10 microgram và 20 microgram/ml. Tiêm tĩnh mạch liều 1g sẽ có nồng độ đỉnh huyết tương 30 microgram/ml sau 15 phút. Tiêm truyền liên tục 500 mg/giờ sẽ có nồng độ đỉnh huyết tương từ 14-20 microgram/ml. Truyền tĩnh mạch liều 2g trong 30phút, nồng độ đỉnh huyết tương khoảng 90 microgram/ml sau khi truyền 30 phút. Tiêm truyền có hiệu quả hơn tiêm bắp vì quan trọng là nồng độ đỉnh đạt được cao hơn nông độ tối tiểu ức chế vi khuẩn.

Cephalothin được phân bố rộng khắp trong các mô và dịch của cơ thể, trừ não và dịch não tủy có nồng độ thấp và không thể dự đoán được. Thể tích phân bố của cephalothin là 18 lít/ 1,7㎡ diện tích cơ thể. Cephalothin đạt nồng độ có thể đo được trong dịch màng phổi, nhãn phòng, mật, khớp và mô xương. Cephalothin qua hàng rào nhau thai vào tuần hoàn thai nhi và có nồng độ thấp trong sữa me.

Nửa đời trong huyết tương dao động từ 30 phút đến 1 giờ, nhưng có thể kéo dài hơn người suy thận (có thể trong khoảng từ 1 giờ đến 5 giờ), nhất là đối với chất chuyển hóa. Khoảng 70% cephalothin trong tuần hoàn gắn kết vớiprotein huyết tương.

Khoảng20 – 30% cephalothin nhanh chóng bị khử acetyl trong gan và khoảng 60— 70% liều dùng được bài tiết trong  nước tiểu qua ống thận trong 6 giờ dưới dạng cephalothin và chất chuyển hóa dessectlocpiplrilun (phổ kháng khuẩn của dessectlocpiplrilun tương tự như cephalothin nhưng hoạt tính chỉ bằng 25-50% hoạt tính của cephalothin). Sau khi tiêm bắp các liều 0,5 và 1g cephalothin có nồng độ cao trong nước tiểu tương ứng là 0,8mg/ml và 2,5mg/ml . Probenecid ngăn chặn sự bài tiết cephalothin ở thận, ceplothin bài tiết qua mật với số lượng rất ít.

4. Quy cách đóng gói:

Hộp 10/ 25 lọ bột pha tiêm.

5. Chỉ định

Cephalothin được chi định trong điều trị các nhiễm khuẩn nặng do các vi khuẩn nhạy cảm gây ra:

– Nhiémkhuan đường hôhap.

– Nhiễm khuẩn da và mô mềm, kể cả viêm phúc mạc.

– Nhiễm khuẩn đường niệu-sinh dục.

– Nhiễm khuẩn huyết, kể cả viêm màng trong tim.

– Nhiễm khuẩn xương và khớp.

– Dự phòng trong phẫu thuật.

6. Liều dùng và cách dùng

Liều dùng:

Người lớn

Liều thông thường tiêm bắp hay tiêm tĩnh mạch: 500 mg- 1 g, mỗi 4-6 giờ, tùy theo mức độ nhiễm khuẩn.

Nhiễm khuẩn nặng: tiêm tĩnh mạch liều 2 g, 4 lần/ ngày.

Nhiễm khuẩn đe dọa tính mạng ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường: có thể tăng liều đến 12 g/ ngày (2 g mỗi 4 giờ)

Dùng dự phòng trước khi phẫu thuật:

Người lớn: liều thông thường: 1 – 2 g tiêm tĩnh mạch 30- 60 phút trước khi phẫu thuật; sau đó trong và sau phẫu thuật: 1- 2 g cách 6 giờ 1 lần trong 24 giờ.

Trẻ em: 20 30 mg/kg cùng khoảng thời gian như người lớn. Dự phòng thường ngừng trong vòng 24 giờ sau phẫu thuật.

Trẻ em:

Liều thông thường: 80- 160 mg/kg/ngày chia làm 3 – 4 lần. Liều tối đa 160 mg/ngày nhưng không được vượt quá 10 – 12 ngày.

Điều trị xơ nang trong nhiễm khuẩn phổi gây nên bởi StaphyÌococcus aureus: liều 25- 50 mg/kg, cách 6 giờ một lần. Tổng liều không vượt quá liều người lớn.

Trẻ mới sinh: liều khuyến cáo tiêm tĩnh mạch là 50 -100 mg/kg/ngày, chia làm 2 – 3 lần.

Trẻ sơ sinh: tiêm tĩnh mạch 25 mg/kg, cách 6 giờ một lần; cần theo dõi độc tính với thận, giảm bạch cầu trung tính, phát ban, dị ứng và thử nghiệm Coombs dương tính giả có thể xảy ra ở người bệnh.

Trẻ em suy thận vừa: Liều 75— 100% liều bình thường trong 12 giờ. Trẻ em đi tiểu khó: Liều bằng 1⁄2 liều bình thường trong 12— 24

gid.

Bệnh nhân suy thận: Liều khởi đầu là 1- 2 g. Giảm liều dựa vào độ thanh thải creatinin (CC):

– CC 50-80 ml/phut: 2 g mỗi 6 giờ.

– CC 25-50 ml/phiut: 1,5 g mỗi6 giờ.

– CC 10-25 ml/phút: 1 g mỗi 6 giờ.

-_CC 2-10 ml/phút: 500 mg mỗi 6 giờ.

– CC <2 ml/phút: 500 mg mỗi 8 giờ.

Cách dùng

Tiêm bắp: Hòa tan 500 mg hoặc 1 g cephalothin tương ứng với 2,2 ml hoặc 4 ml nước vô khuẩn pha tiêm. Dung dịch thu được dùng để

tiêm bắp sâu.

Tiêm tĩnh mạch: Hòa tan 500 mg hoặc 1 g cephalothin tương ứng với 5 ml hoặc 10 ml nước vô khuẩn pha tiêm hoặc dung dịch tiêm |

Natri clorid 0,9%, dung dịch tiêm Glucose 5%, dung dich tiém Ringer lactat, dung dich tiém Glucose 5% trong Ringer lactat. Dung dich|

thu được dùng để tiêm tĩnh mạch chậm từ 3 đến 5 phút. Tiêm từ từ liều 1 g cephalothin trong thời gian ít nhất 5 phút.

Truyền tĩnh mạch không liên tục: cách dùng này cho nông độ huyết thanh rất cao và có hiệu quả. Liều thích hợp trong 24 giờ là 8 — 12

g, mỗi lần tiêm truyền 2 2,4lan hoặc 6 lần/ngày. Hòa tan 2 g cephalothin trong 100 ml dung dịch natri clorid tiêm 0,9%, hoặc 100 ml

glucose tiêm 5%. Nên tiêm truyền thẻ tích này trong thời gian từ 30— 50 phút.

7. Chống chỉ định

Quá mẫn với kháng sinh nhóm cephalosporin hoặc tiền sử dị ứng với penicillin.

8. Lưu ý và thận trọng

Thận trọng khi dùng thuốc ở những bệnh nhân có tiền sử dị ứng. Nếu dị ứng xảy ra, cần ngưng dùng thuốc.

Thận trọng khi dùng thuốc ở những bệnh nhân suy giảm chức năng thận: có thể phải giảm liều. Cần theo dõi chức năng thận và thời gian đông máu, nhât là trong thời gian điều trị cephalothin dài ngày và liều cao. Dùng kết hợp với gentamicin và các aminoglycosid khác có nguy cơ tăng nhiễm độc thận.

Cũng như các kháng sinh khác, việc sử dụng kéo dài cephalothin có thể dẫn tới sự phát triển quá mức các vi sinh vật không nhạy cảm với thuốc, do đó cần phải theo dõi bệnh nhân liên tục. Viêm đại tràng màng giả liên quan tới Clostridium difficile đã được báo cáo với cephalothin, có thể từ mức độ nhẹ đến đe dọa tính mạng. Vì vậy, điều quan trọng là phải đánh giá chẩn đoán này ở bệnh nhân bị tiêu chảy trong hoặc sau khi điều trị bằng cephalothin.

Dùng kết hợp kháng sinh cephalosporin và aminoglycosid có thể làm tăng độc tính trên thận.

Sử dụng trên phụ nữ có thai: Nói chung cephalothin được xem là sử dụng an toàn trong khi mang thai. Không có thông báo nào về mối liên quan giữa sử dụng cephalothin với các khuyết tật bẩm sinh hoặc độc tính trên trẻ sơ sinh.

Tuy vậy, chưa có những nghiên cứu đầy đủ và kiểm soát chặt chẽ trên những người mang thai, nên dùng thuốc thận trọng và chỉ dùng cho người mang thai khi thật cần thiết.

Sử dụng trên phụ nữ cho con bú: cephalothin bài tiết qua sữa mẹ ở nồng độ thấp (khoảng 7,5% liều người mẹ dùng có trong sữa). Không biết thuốc có ảnh hưởng độc đến trẻ hay không. Nên thận trọng khi sử dụng cephalothin ở người cho con bú, cần quan tâm khi thấy trẻ bị ỉa chảy,tưa và nổi ban.

Ảnh hưởng của thuốc đến khả năng điều khiến tàu xe và vận hành máy móc: Không có báo cáo.

9. Tương tác của thuốc với các thuốc khác và các dạng tương tác khác

Độc tính trên thận tăng khi dùng đồng thời cephalothin với các kháng sinh nhóm aminoglycosid. Probenecid cạnh tranh bài tiết ở ống thận với cephalothin và làm giảm độ thanh thải của cephalothin. Không khuyến cáo dùng đồng thời cephalothin và probenecid.

Test Coombs (+) trong khi điều trị bằng cephalothin. Trong khi làm phản ứng chéo truyền máu hoặc thử mẹ đã dùng cephalothin trước khi đẻ, phản ứng này có thể (+) do thuốc.

Tìm glucose niệu bằng các chất khử có thê dương tính giả.

Cephalothin có thể gây trở ngại cho việc đo nồng độ creatinin theo phương pháp Jaffé và có thể cho giá trị cao giả tạo; nên nhớ điều này khi kiểm tra chức năng thận.

Cũng có chứng cứ tăng nhiễm độc thận khi dùng với một thuốc lợi tiểu quai như furosemid, nhưng không thể hiện chắc chắn như furosemid với cefaloridin.

Có thể có sự đối kháng giữa cephalothin và các chất kiềm khuẩn.

Tương ky:

Đã thây cephalothin tương ky với aminoglycosid và nhiều chất khác. Không trộn lẫn cephalothin và aminoglycosid trong cùng lọ /túi.

Tủa có thể xảy ra ở dungdịch pH dưới 5.

10. Tác dụng không mong muốn

Thường gặp, 1/100 < ADR < 1/10

– Toàn thân: Đau tai chỗ tiêm bắp.

– Tiêu hóa: Tiêu chảy.

– Máu: Tăng bạch cầu ưa  eosin, biến chứng chảy máu.

– Da: Ban da dạng sần

Ít gặp, 1/1000< ADR < 1/100

– Toàn thân: Sốt.

– Da: Nổi mày đay.

Hiếm gặp, ADR < 1/1 000

– Toàn thân: Phản ứng giống bệnh huyết thanh và phản ứng phản vệ.

– Máu: Giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu, thiếu máu tan máu, thử nghiệm Coombs dương tính.

– Tiêu hóa: Viêm đại tràng màng giả, buồn nôn và nôn.

– Thận: Nhiễm độc thận có tăng tạm thời urê huyết/creatinin, viêm thận kẽ.

– Gan: Vàng da ứ mật, tăng nhẹ AST, ALT.

– Khác: Đau khớp và bệnh nấm Candida.

Tác dụng không mong muôn liên quan tới liều cao: Cơn co giật và những dấu hiệu nhiễm độc hệ thần kinh trung ương, đặc biệt ở người  suy thận; viêm tĩnh mạch huyết khối sau khi tiêm truyền tĩnh mạch.

Ngưng sử dụng và hỏi ý kiến bác sĩ nếu: Xuất hiện dị ứng hoặc phản ứng quá mẫn nghiêm trọng, viêm đại tràng màng giả.

Thông báo cho bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi dùng thuốc.

11. Quá liều và xử trí

Triệu chứng: Các triệu chứng quá liều bao gồm phản ứng quá mẫn thần kinh cơ, co giật, đặc biệt ở người suy thận.

Xử trí: Xử trí quá liều cần cân nhắc đến khả năng quá liều của nhiều loại thuốc, sự tương tác thuốc và được động học bắt thườngở người bệnh.

Nếu có co giật, ngừng ngay thuốc và có thể dùng liệu pháp chống co giật nếu có chỉ định về lâm sàng. Bảo vệ đường hô hấp, hỗ trợ thông khí và truyện dịch. Theo dõi cần thận và duy trì trong phạm vi cho phép các dấu hiệu sinh tồn của người bệnh, các khí trong máu, các chất điện giải trong huyết (thanh v.v… Nếu gặp quá liều trầm trọng, đặc biệt ở người suy thận, có thể phối hợp thấm tách máu và truyền máu, nêu điều trị bảo tồn bị thất bại. Tuy nhiên, chưa có dữ liệu có giá trị chứng minh cách điều trị này.

Khi bị quá liều, cần ngưng dùng cephalothin ngay và có thé dùng liệu pháp chống co giật nếu được chỉ định về lâm sàng. Thẩm tách máu có thể được xem xét trong trường hợp quá liều nghiêm trọng.

12. Điều kiện bảo quản:

Để nơi khô ráo, tránh ánh sáng, nhiệt độ không quá 30°C.

13. Hạn dùng:24 tháng kê từ ngày sản xuất

Bệnh viện Lê Văn Thịnh với đội ngũ Y Bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, tận tâm và luôn lấy Người bệnh làm trung tâm cho mọi hoạt động, nếu Người bệnh có vấn đề về sức khỏe, hay cần biết thêm thông tin hãy đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh để được tư vấn, thăm khám và điều trị

Dược sĩ

Trương Thị Hiền

(Theo tờ Hướng dẫn sử dụng của Nhà sản xuất)


canh-bao-ti-le-thai-phu-_281687699108-1200x900.jpg

29 Tháng Sáu, 2023 Tin TứcTruyền Thông

Tình hình kinh tế khó khăn, nhiều doanh nghiệp giảm quy mô hoạt động vì thiếu đơn hàng, không ít cơ sở kinh doanh đóng cửa… đã ảnh hưởng đến nhiều thai phụ. Có người bị sốc sau khi đi khám và biết mình mang thai vì không đủ tiền để chăm sóc sức khỏe, nuôi con.

Bác sĩ Nguyễn Hương Lan đang tư vấn cho một thai phụ về tầm soát sức khỏe thai kỳ (ảnh chụp tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh ngày 19/6) – Ảnh: T.HUYỀN

Hoãn làm xét nghiệm vì chưa có lương

Tại phòng khám sản của Bệnh viện Lê Văn Thịnh, chị N.T.D. – 34 tuổi, cư trú tại phường Bình Trưng Tây, TP Thủ Đức – mặt buồn thiu. 1 tuần nay, chị thấy trong người không khỏe, hay bị chóng mặt và mắc ói. Ban đầu, chị tưởng mình quá căng thẳng vì bị nhà máy tinh giản biên chế, khi tới bệnh viện kiểm tra mới biết đã mang thai 16 tuần.

Vợ chồng chị đều là công nhân và cả 2 cùng mất việc. Chồng chị phải chạy xe ôm để có thu nhập. 2 con đang độ tuổi tiểu học. Đứa con thứ ba xuất hiện lúc này có vẻ như không phù hợp hoàn cảnh. Hiện tại, chị chưa biết trông vào đâu để có tiền chăm sóc thai kỳ chứ chưa nói tới chuyện sau này nuôi con. Cầm kết quả siêu âm trong tay, chị mếu máo với bác sĩ rằng muốn bỏ thai.

Thấy tinh thần thai phụ không tốt, bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Hương Lan – Phó khoa Sản Bệnh viện Lê Văn Thịnh – đã động viên, rằng thai đang rất ổn, nhịp tim tốt, và đã có hình hài. Bác sĩ còn nói chị cứ đi làm các xét nghiệm tầm soát thai kỳ, bác sĩ sẽ hỗ trợ chi phí. Lúc này, phản ứng đòi bỏ thai của chị D. không còn quyết liệt và chị đã chịu khám thai theo lời khuyên của bác sĩ.

Khi bệnh nhân ra về, tâm trạng của bác sĩ Nguyễn Hương Lan trĩu nặng. Cũng là phụ nữ, chị hoàn toàn thấu hiểu rằng chi phí khám và tầm soát thai kỳ chỉ là một phần rất nhỏ trong nỗi khó khăn của chị D. Muốn mang thai rồi sinh con, nuôi dưỡng một đứa trẻ trong hoàn cảnh công việc bấp bênh thì người mẹ ấy sẽ còn phải đối diện với rất nhiều nỗi lo toan.

Chị D. không phải trường hợp cá biệt. Ngày 19/6, chị N.K.A. – mang thai 20 tuần tuổi – tới Bệnh viện Lê Văn Thịnh khám thai. Khi bác sĩ chỉ định siêu âm tầm soát dị tật thai nhi thì chị đã bật khóc vì không có đủ tiền. Chị xin bác sĩ để chậm lại vài tuần, hôm nay, chỉ cần biết em bé vẫn đang khỏe là được. Khi bác sĩ thăm hỏi hoàn cảnh, chị A. tâm sự đã 3 tháng nay chưa nhận được lương. Doanh nghiệp nơi chị làm việc hứa cuối tháng sẽ trả nên bây giờ chị không có tiền để làm siêu âm hay xét nghiệm.

Không chỉ Khoa Sản của Bệnh viện Lê Văn Thịnh ghi nhận nhiều thai phụ gặp khó khăn do thu nhập bị mất hoặc sụt giảm. Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Hữu Trung – Trưởng khoa Phụ sản cơ sở 2 Bệnh viện Đại học y dược TPHCM – cho biết ông cũng cảm nhận rõ sự lo lắng của các thai phụ đến khám ở đây. Có thai phụ khám thai định kỳ từ đầu và đã có kế hoạch sẽ sinh em bé tại bệnh viện thì nay, gần tới ngày lâm bồn họ lại xin chuyển về quê. Chị thật lòng chia sẻ do thu nhập của vợ chồng không tốt, chồng chỉ nhận được 70% lương nên quyết định chuyển về quê sinh con để giảm chi phí.

Bác sĩ Nguyễn Hữu Trung ghi nhận cứ 10 người vào khám thai thì 3 người quay lưng bỏ về luôn sau khi được bác sĩ chỉ định các xét nghiệm tầm soát thai kỳ. Đa phần những phụ nữ này làm nội trợ, lao động tự do, làm công việc tay chân, người lao động mới bị mất việc hoặc bị giảm lương…

Nên chỉ định kỹ thuật y khoa phù hợp với hoàn cảnh của thai phụ

Cả Bệnh viện Lê Văn Thịnh và Bệnh viện Đại học y dược TPHCM đều thống kê thấy số người đi khám thai sụt giảm hẳn so với những năm trước dịch COVID-19. Chẳng hạn, bác sĩ Nguyễn Hữu Trung ước tính hiện mỗi ngày Khoa Phụ sản cơ sở 2 Bệnh viện Đại học y dược TPHCM tiếp nhận khoảng 120 thai phụ, chỉ bằng 70% so với bình thường. Trong số các thai phụ tới tầm soát sức khỏe thai kỳ thì những người có tâm lý lo lắng về tài chính chiếm khoảng 30%. Tương tự, bác sĩ Nguyễn Hương Lan cho biết, mỗi ngày Bệnh viện Lê Văn Thịnh khám khoảng 70 thai phụ, sụt giảm 30% so với bình thường.

Theo bác sĩ Nguyễn Hữu Trung, dưới góc độ người làm chuyên môn, các bác sĩ có thể đồng cảm, chia sẻ trước sự khó khăn của các thai phụ khi ra các chỉ định y khoa. Ông cho rằng, các kỹ thuật tầm soát tốt nhất nhưng chưa chắc đã hợp lý nhất với những phụ nữ đang gặp khó khăn về tài chính. Khi ra chỉ định, bác sĩ hãy dành thêm thời gian hỏi han, tư vấn cho thai phụ, đưa ra nhiều phương án cho họ lựa chọn, miễn sao vẫn đạt được mục tiêu chăm sóc sức khỏe thai kỳ cơ bản.

Bác sĩ Nguyễn Hữu Trung lấy ví dụ có 2 loại xét nghiệm tầm soát bệnh Down ở thai nhi. Xét nghiệm double test được chỉ định ở tất cả thai phụ có thai trong quý đầu (giữa tuần thứ 9 đến hết tuần thứ 13) của thai kỳ, cho phép phát hiện khoảng 95% thai kỳ mắc hội chứng Down, chi phí dao động từ 500.000-600.000 đồng. Còn xét nghiệm NIPT – xét nghiệm sàng lọc trước sinh không xâm lấn cho độ chính xác cao gần như tuyệt đối nhưng chi phí cao gấp từ 5 lần so với double test.

Tiếp đến, với các thai phụ tài chính khó khăn, bác sĩ Nguyễn Hữu Trung cho rằng chỉ cần siêu âm 4 lần trong suốt quá trình mang thai. Lần siêu âm thứ nhất là từ tuần thai thứ 11-13 (đo độ mờ da gáy thai nhi). Lần siêu âm thứ hai từ tuần thai thứ 20-23 (siêu âm 4D để tầm soát các dị tật). Lần siêu âm thứ ba là vào lúc thai 32 tuần, lần cuối siêu âm trước ngày dự sinh 1 tháng.

Bác sĩ cân nhắc và ra chỉ định hợp lý với hoàn cảnh của thai phụ sẽ góp phần giúp cho những phụ nữ này theo hết được quá trình tầm soát và chăm sóc thai kỳ. Nếu chi phí thăm khám, tầm soát trong thai kỳ vượt quá khả năng thì họ sẽ bỏ dở giữa chừng. Như vậy, mục tiêu chăm sóc sức khỏe sinh sản sẽ không đạt được. Mẹ không được tư vấn và khám thai đầy đủ sẽ không phát hiện các bệnh lý tiềm ẩn, gây nguy cơ cao khi sinh nở như băng huyết sau sinh, tiền sản giật… Đó còn chưa kể chi phí cho một em bé bị dị tật còn cao hơn rất nhiều lần so với chi phí khám thai, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.

Bác sĩ Nguyễn Hương Lan hy vọng rằng sẽ có những chính sách hỗ trợ xã hội kịp thời cho phụ nữ mang thai đang gặp nhiều khó khăn lúc này.

Thực hiện: Thanh Huyền

Nguồn: phunuonline.com.vn


download.jpg

29 Tháng Sáu, 2023 Tin TứcTruyền Thông

Tình cảnh “dở khóc, dở cười” trên là chuyện bình thường của nhân viên y tế khi đã chọn làm việc ở Khoa Cấp cứu. Nếu không đồng cảm, họ khó có thể nên vợ nên chồng.

Vừa gọi ly nước đã phải chạy về bệnh viện

Điều dưỡng Hoàng Thị Tuấn Tình, Điều dưỡng trưởng khoa Tâm lý lâm sàng, Bệnh viện Lê Văn Thịnh
Tôi đã trải qua 4 năm “thanh xuân” ở khoa Cấp cứu, ai cũng ngạc nhiên với sự lựa chọn này vì đây được xem là “nơi đầu sóng ngọn gió” của mọi bệnh viện. Thời điểm đó, thanh niên, trẻ khỏe, chưa lập gia đình, không có gì ngoài sự máu lửa nên tôi rất hào hứng. Cũng chính thời gian làm việc ở đây đã giúp tôi quen được “một nửa” của cuộc đời mình. Tình yêu của của hai người đồng nghiệp cùng làm việc tại Khoa Cấp cứu cũng lắm tình huống “dở khóc, dở cười”.
Thời mới hẹn hò, là nhân viên cấp cứu nên chúng tôi không bao giờ được tắt điện thoại. Nếu đi chơi cũng chỉ dám quẩn quanh gần viện vì sợ có việc đột xuất. Hôm ấy, tranh thủ ngày nghỉ sau ca trực đêm, chúng tôi đi uống nước. Chưa kịp tâm sự, nước vừa được mang ra thì tôi lại nhận tin nhắn yêu cầu có mặt tại khoa ngay lập tức.
Bệnh viện Lê Văn Thịnh, nơi 2 anh Tưởng và chị Tình quen biết rồi kết hôn. Ảnh: GL.
Bỏ lại ly nước, chúng tôi chạy vội về bệnh viện, thay đồ và vào ca trực. Nguyên nhân là người nhà bệnh nhân mâu thuẫn với nhân viên Khoa Cấp cứu, vì thế phải thay toàn bộ kíp trực mới để đảm bảo an toàn.
Rồi một hôm khác, bệnh nhân cấp cứu đông quá nên chúng tôi cũng lại phải bỏ dở ly nước để về phụ mọi người. Chuyện hẹn hò vất vả lắm. Nếu không cùng ngành nghề, chắc không anh nào chấp nhận người yêu tự dưng đi làm lúc đang hẹn hò đâu.
Hẹn hò được 2 năm thì chúng tôi lập gia đình. Thu nhập không cao nhưng sống đủ, hai vợ chồng vẫn trực đêm 3 buổi một tuần. Tất cả thay đổi khi tôi sinh con đầu lòng.
Năm thứ 4 tôi làm điều dưỡng của Khoa Cấp cứu, theo quy định, khi con tròn 1 tuổi, nhân viên y tế nữ phải trực đêm trở lại. Ngày đầu tiên trở lại vị trí quen thuộc cũng là ngày sinh nhật của đầu tiên con trai. Buổi trưa, tôi tranh thủ nấu nướng bày biện và tổ chức cho bé.
Đến 21h, tôi xách túi vào viện. Bước chân đi tôi buồn rười rượi. Tôi bắt buộc phải cai sữa, uống thuốc cho tiêu sữa và khỏi căng tức. Công việc không thể khác được. Trở về nhà vào sáng hôm sau, tôi đi chợ, nấu nướng, ôm ấp con vào lòng. Khi thấy mọi thứ đã ổn, tôi mới yên tâm chợp mắt sau đêm trực mệt nhoài.
Vợ chồng điều dưỡng Hoàng Thị Tuấn Tình và Phạm Văn Tưởng cùng hai con trai. Ảnh: NVCC
Thu nhập không cao, áp lực lớn, nhưng đổi lại chúng tôi nhận được rất nhiều tình cảm từ đồng nghiệp. Thời điểm tôi bị động thai, Khoa Cấp cứu đã cho nghỉ không lương 1 tháng rồi sắp xếp công việc hành chính. Đến khi con được một tuổi, không thể trực đêm mãi, tôi quyết định chuyển khoa để chăm lo cho gia đình tốt hơn.
Sau 4 năm gắn bó, tôi chuyển sang Khoa Tâm lý lâm sàng. Kinh nghiệm quý giá ở Khoa Cấp cứu đã giúp tôi rất nhiều. Ngay cả việc chăm con, tôi cũng có nhiều kinh nghiệm từ nghề.

Ở cùng thành phố, 6 tháng không thể gặp nhau

Điều dưỡng Phạm Văn Tưởng, Điều dưỡng trưởng Khoa Cấp cứu
Tôi vào làm việc tại Khoa Cấp cứu sớm hơn 2 tuần so với cô ấy. Với điều dưỡng nữ làm cấp cứu, vất vả nhất là khi gặp các bệnh nhân say rượu, kích động, hay cần súc rửa dạ dày. Nhân sự thiếu, mỗi kíp trực chỉ có 3 người nhưng chưa khi nào Tình “tận dụng” sự thân quen để nhờ tôi gánh việc.
Đồng hành cùng nhau trong những năm đầu tiên làm nghề, cho đến khi dịch Covid-19 ập đến, chúng tôi lại cùng nhau ra tuyến đầu. Đó cũng là lần đầu tiên tôi xa vợ con đến nửa năm trời dù cả gia đình vẫn ở chung một thành phố. Tôi vào bệnh viện dã chiến, còn Tình đi lấy mẫu cộng đồng. Hai con trai được dì đang là sinh viên đại học chăm sóc.
Thời điểm đó, phải đến cuối tuần, khi có kết quả xét nghiệm âm tính, Tình mới dám về thăm con một ngày. Liên tiếp những ngày sau đó là chuỗi ngày đi lấy mẫu đến tận 2-3h sáng. Buổi tối, vợ chồng chỉ kịp tranh thủ gọi điện để biết nhau vẫn ổn là ngủ thiếp đi.  Khi thành phố bình an trở lại, hai vợ chồng ngồi bên nhau rồi chúng tôi tự hỏi sao gia đình mình có thể vượt qua được những tháng ngày như vậy.

   

Chị Tình vẫn nhớ như in những ngày hai vợ chồng phải xa hai con nhỏ, ra tuyến đầu chống dịch. Ảnh: NVCC.

Trong 11 năm làm việc ở Bệnh viện Lê Văn Thịnh, thì có đến 10 năm tôi không đón Tết cùng gia đình. Đôi khi cũng tâm tư vì khi cả nhà quây quần đông đủ, tôi ít khi góp mặt. Hai đứa trẻ, có lẽ vì là con của nhân viên y tế nên đã sớm hiểu chuyện dù đôi khi vẫn băn khoăn khi “bố vắng nhà”. Hơn hết, có vợ làm cùng nghề, sự thông cảm dành cho nhau nhiều hơn. Đó là động lực giúp tôi vẫn tiếp tục gắn bó với nghề.

Nguồn: vietnamnet.vn

 


IMG_20220705_093158-1200x600.jpg

Cảnh báo tỉ lệ thai phụ khám định kỳ sụt giảm do kinh tế khó khăn

PNO – Tình hình kinh tế khó khăn, nhiều doanh nghiệp giảm quy mô hoạt động vì thiếu đơn hàng, không ít cơ sở kinh doanh đóng cửa… đã ảnh hưởng đến nhiều thai phụ. Có người bị sốc sau khi đi khám và biết mình mang thai vì không đủ tiền để chăm sóc sức khỏe, nuôi con.

 

Bác sĩ Nguyễn Hương Lan đang tư vấn cho một thai phụ về tầm soát sức khỏe thai kỳ (ảnh chụp tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh ngày 19/6) - ẢNH: T.HUYỀN
Bác sĩ Nguyễn Hương Lan đang tư vấn cho một thai phụ về tầm soát sức khỏe thai kỳ (ảnh chụp tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh ngày 19/6) – Ảnh: T.HUYỀN
Hoãn làm xét nghiệm vì chưa có lương

Tại phòng khám sản của Bệnh viện Lê Văn Thịnh, chị N.T.D. – 34 tuổi, cư trú tại phường Bình Trưng Tây, TP Thủ Đức – mặt buồn thiu. 1 tuần nay, chị thấy trong người không khỏe, hay bị chóng mặt và mắc ói. Ban đầu, chị tưởng mình quá căng thẳng vì bị nhà máy tinh giản biên chế, khi tới bệnh viện kiểm tra mới biết đã mang thai 16 tuần.

Vợ chồng chị đều là công nhân và cả 2 cùng mất việc. Chồng chị phải chạy xe ôm để có thu nhập. 2 con đang độ tuổi tiểu học. Đứa con thứ ba xuất hiện lúc này có vẻ như không phù hợp hoàn cảnh. Hiện tại, chị chưa biết trông vào đâu để có tiền chăm sóc thai kỳ chứ chưa nói tới chuyện sau này nuôi con. Cầm kết quả siêu âm trong tay, chị mếu máo với bác sĩ rằng muốn bỏ thai.

Thấy tinh thần thai phụ không tốt, bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Hương Lan – Phó khoa Sản Bệnh viện Lê Văn Thịnh – đã động viên, rằng thai đang rất ổn, nhịp tim tốt, và đã có hình hài. Bác sĩ còn nói chị cứ đi làm các xét nghiệm tầm soát thai kỳ, bác sĩ sẽ hỗ trợ chi phí. Lúc này, phản ứng đòi bỏ thai của chị D. không còn quyết liệt và chị đã chịu khám thai theo lời khuyên của bác sĩ.

Khi bệnh nhân ra về, tâm trạng của bác sĩ Nguyễn Hương Lan trĩu nặng. Cũng là phụ nữ, chị hoàn toàn thấu hiểu rằng chi phí khám và tầm soát thai kỳ chỉ là một phần rất nhỏ trong nỗi khó khăn của chị D. Muốn mang thai rồi sinh con, nuôi dưỡng một đứa trẻ trong hoàn cảnh công việc bấp bênh thì người mẹ ấy sẽ còn phải đối diện với rất nhiều nỗi lo toan.

Chị D. không phải trường hợp cá biệt. Ngày 19/6, chị N.K.A. – mang thai 20 tuần tuổi – tới Bệnh viện Lê Văn Thịnh khám thai. Khi bác sĩ chỉ định siêu âm tầm soát dị tật thai nhi thì chị đã bật khóc vì không có đủ tiền. Chị xin bác sĩ để chậm lại vài tuần, hôm nay, chỉ cần biết em bé vẫn đang khỏe là được. Khi bác sĩ thăm hỏi hoàn cảnh, chị A. tâm sự đã 3 tháng nay chưa nhận được lương. Doanh nghiệp nơi chị làm việc hứa cuối tháng sẽ trả nên bây giờ chị không có tiền để làm siêu âm hay xét nghiệm.

Không chỉ Khoa Sản của Bệnh viện Lê Văn Thịnh ghi nhận nhiều thai phụ gặp khó khăn do thu nhập bị mất hoặc sụt giảm. Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Hữu Trung – Trưởng khoa Phụ sản cơ sở 2 Bệnh viện Đại học y dược TPHCM – cho biết ông cũng cảm nhận rõ sự lo lắng của các thai phụ đến khám ở đây. Có thai phụ khám thai định kỳ từ đầu và đã có kế hoạch sẽ sinh em bé tại bệnh viện thì nay, gần tới ngày lâm bồn họ lại xin chuyển về quê. Chị thật lòng chia sẻ do thu nhập của vợ chồng không tốt, chồng chỉ nhận được 70% lương nên quyết định chuyển về quê sinh con để giảm chi phí.

Bác sĩ Nguyễn Hữu Trung ghi nhận cứ 10 người vào khám thai thì 3 người quay lưng bỏ về luôn sau khi được bác sĩ chỉ định các xét nghiệm tầm soát thai kỳ. Đa phần những phụ nữ này làm nội trợ, lao động tự do, làm công việc tay chân, người lao động mới bị mất việc hoặc bị giảm lương…

Nên chỉ định kỹ thuật y khoa phù hợp với hoàn cảnh của thai phụ

Cả Bệnh viện Lê Văn Thịnh và Bệnh viện Đại học y dược TPHCM đều thống kê thấy số người đi khám thai sụt giảm hẳn so với những năm trước dịch COVID-19. Chẳng hạn, bác sĩ Nguyễn Hữu Trung ước tính hiện mỗi ngày Khoa Phụ sản cơ sở 2 Bệnh viện Đại học y dược TPHCM tiếp nhận khoảng 120 thai phụ, chỉ bằng 70% so với bình thường. Trong số các thai phụ tới tầm soát sức khỏe thai kỳ thì những người có tâm lý lo lắng về tài chính chiếm khoảng 30%. Tương tự, bác sĩ Nguyễn Hương Lan cho biết, mỗi ngày Bệnh viện Lê Văn Thịnh khám khoảng 70 thai phụ, sụt giảm 30% so với bình thường.

Theo bác sĩ Nguyễn Hữu Trung, dưới góc độ người làm chuyên môn, các bác sĩ có thể đồng cảm, chia sẻ trước sự khó khăn của các thai phụ khi ra các chỉ định y khoa. Ông cho rằng, các kỹ thuật tầm soát tốt nhất nhưng chưa chắc đã hợp lý nhất với những phụ nữ đang gặp khó khăn về tài chính. Khi ra chỉ định, bác sĩ hãy dành thêm thời gian hỏi han, tư vấn cho thai phụ, đưa ra nhiều phương án cho họ lựa chọn, miễn sao vẫn đạt được mục tiêu chăm sóc sức khỏe thai kỳ cơ bản.

Bác sĩ Nguyễn Hữu Trung lấy ví dụ có 2 loại xét nghiệm tầm soát bệnh Down ở thai nhi. Xét nghiệm double test được chỉ định ở tất cả thai phụ có thai trong quý đầu (giữa tuần thứ 9 đến hết tuần thứ 13) của thai kỳ, cho phép phát hiện khoảng 95% thai kỳ mắc hội chứng Down, chi phí dao động từ 500.000-600.000 đồng. Còn xét nghiệm NIPT – xét nghiệm sàng lọc trước sinh không xâm lấn cho độ chính xác cao gần như tuyệt đối nhưng chi phí cao gấp từ 5 lần so với double test.

Tiếp đến, với các thai phụ tài chính khó khăn, bác sĩ Nguyễn Hữu Trung cho rằng chỉ cần siêu âm 4 lần trong suốt quá trình mang thai. Lần siêu âm thứ nhất là từ tuần thai thứ 11-13 (đo độ mờ da gáy thai nhi). Lần siêu âm thứ hai từ tuần thai thứ 20-23 (siêu âm 4D để tầm soát các dị tật). Lần siêu âm thứ ba là vào lúc thai 32 tuần, lần cuối siêu âm trước ngày dự sinh 1 tháng.

Bác sĩ cân nhắc và ra chỉ định hợp lý với hoàn cảnh của thai phụ sẽ góp phần giúp cho những phụ nữ này theo hết được quá trình tầm soát và chăm sóc thai kỳ. Nếu chi phí thăm khám, tầm soát trong thai kỳ vượt quá khả năng thì họ sẽ bỏ dở giữa chừng. Như vậy, mục tiêu chăm sóc sức khỏe sinh sản sẽ không đạt được. Mẹ không được tư vấn và khám thai đầy đủ sẽ không phát hiện các bệnh lý tiềm ẩn, gây nguy cơ cao khi sinh nở như băng huyết sau sinh, tiền sản giật… Đó còn chưa kể chi phí cho một em bé bị dị tật còn cao hơn rất nhiều lần so với chi phí khám thai, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.

Bác sĩ Nguyễn Hương Lan hy vọng rằng sẽ có những chính sách hỗ trợ xã hội kịp thời cho phụ nữ mang thai đang gặp nhiều khó khăn lúc này.

 Thanh Huyền


logo-benh-vien-le-van-thinh-1.jpg

Căn cứ Thông tư 28/2016/TT-BYT ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Bộ Y tế về hướng dẫn quản lý bệnh nghề nghiệp, Sở Y tế công bố danh sách cơ sở được cấp phép khám, điều trị bệnh nghề nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh tính đến ngày 20/6/2023
danh_sach_co_so_kham_dieu_tri_benh_nghe_nghiep_den_ngay_2062023_20620239

logo-benh-vien-le-van-thinh.jpg

19 Tháng Sáu, 2023 Tin TứcTruyền Thông

Ngọn lửa bùng lên và khí ga trong bình mini phát nổ khiến người phụ nữ ở Đồng Nai bỏng nặng. Chị vội nhảy xuống ao tôm trước khi được chồng đưa đi cấp cứu.

Chia sẻ với VietNamNet, bác sĩ Nguyễn Đức Kiên Bình, Khoa Ngoại chấn thương chỉnh hình, Bệnh viện Lê Văn Thịnh (TP.HCM), cho biết bệnh nhân là một phụ nữ trên 40 tuổi, ngụ tại tỉnh Đồng Nai. Chị được chồng đưa đi cấp cứu vào ngày 11/6 sau khi vụ nổ xảy ra.

Khai thác bệnh sử ghi nhận, khi bệnh nhân chuẩn bị nấu ăn, lúc bật bếp, lửa phụt lên và khí ga phát nổ gây bỏng vùng thân trên của bệnh nhân gồm lưng, vai, ngực, hai tay, cổ.

Ngay lập tức, chị nhảy xuống ao nuôi tôm trước nhà để giảm bớt bỏng rát. Sau đó, chị được chồng đưa chị đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh (TP.HCM) mà không kịp sơ cứu tại chỗ.

Thời điểm tiếp nhận, người phụ nữ tỉnh táo, diện tích bỏng khoảng 50% cơ thể, chẩn đoán bỏng độ 2A. Bệnh nhân được chuyển lên Khoa Ngoại chấn thương chỉnh hình tiếp tục điều trị.

“Hiện mới là giai đoạn đầu của bỏng nên vẫn chưa nói trước được tình hình. Bệnh nhân đã được truyền bù dịch cũng như đề phòng nguy cơ nhiễm trùng máu hoặc biến chứng sốc bỏng. Trong vài ngày tới, chúng tôi sẽ đánh giá mức độ tổn thương mô hoại tử đến đâu và có hướng xử lý tiếp theo”, bác sĩ Bình nói.

Ông cũng cho biết trong tình huống cấp bách, nếu xung quanh không có nước sạch, người gặp tai nạn cháy/bỏng có thể tận dụng nguồn nước xung quanh như ao hồ, sông suối để loại bỏ lửa và nhiệt trên cơ thể, tránh tổn thương sâu thêm do bỏng.

Cách đây ít ngày, một em bé 5 tuổi ở Bình Phước bị chấn thương đầu, dập nhu mô não vì khí ga trong bình mini. Tai nạn xảy ra khi trẻ chơi gần đống rác đang đốt ở sau nhà. Nghe tiếng nổ lớn, gia đình chạy ra và phát hiện bé bất tỉnh với vết thương vùng đầu. Trẻ được phẫu thuật khẩn cấp và theo dõi tại Bệnh viện Nhi đồng 2 TP.HCM.

Các bác sĩ nhiều lần cảnh báo việc dùng đi dùng lại bình gas mini hoặc bình gas vỏ cũ kỹ, rỉ sét… rất mất an toàn và dễ cháy nổ.

Nguồn: vietnamnet.vn


5fe2db5856b387eddea2.jpg

19 Tháng Sáu, 2023 Tin TứcTruyền Thông

Theo lãnh đạo Bảo hiểm xã hội TPHCM, trung bình mỗi quý, bệnh nhân vào Bệnh viện Lê Văn Thịnh sử dụng khoảng 90 tỷ đồng chi phí khám chữa bệnh được bảo hiểm y tế chi trả.

Ngày 16/6, khoa Khám bệnh số 2, trực thuộc Bệnh viện Lê Văn Thịnh, nằm trên cơ sở của Trạm Y Tế phường Thảo Điền (TP Thủ Đức) đã chính thức đi vào hoạt động.
Bác sĩ Trần Văn Khanh, Giám đốc Bệnh viện Lê Văn Thịnh cho biết, trước đây nơi đặt khoa Khám bệnh số 2 là phòng khám vệ tinh, quy mô hoạt động nhỏ, các thuốc và trang thiết bị điều trị cũng bị hạn chế.
Khoa Khám bệnh số 2, Bệnh viện Lê Văn Thịnh vừa đi vào hoạt động (Ảnh: Hoàng Lê).
Trong khi đó, khoa Khám bệnh ở trụ sở chính của bệnh viện mỗi ngày phải khám 3.200-3.500 bệnh nhân rải đều ở các chuyên khoa, gây nên tình trạng quá tải.
Do đó, đơn vị đã mạnh dạn đề xuất với Sở Y tế TPHCM được thực hiện mô hình khoa Khám bệnh số 2, trước mắt bố trí 6 phòng khám gồm các chuyên khoa Nội, Ngoại, Sản, Nhi, Mắt, Tai Mũi Họng. Ngoài ra còn có phòng xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh và khu vực tiếp nhận cấp cứu, tiêm ngừa
Theo bác sĩ Khanh, dù khoa Khám bệnh số 2 trực thuộc bệnh viện đa khoa hạng 1 nhưng về phương thức hoạt động tương đương một phòng khám hạng 3. Do đó, danh mục kỹ thuật phụ thuộc vào số lượng y bác sĩ, khả năng điều trị kèm các thuốc tương ứng.
Khu vực đặt các loại thuốc trong danh mục bảo hiểm y tế chi trả của khoa Khám bệnh số 2, Bệnh viện Lê Văn Thịnh (Ảnh: Hoàng Lê).
Bệnh viện đã xin Sở Y tế được phép mở rộng thêm danh mục thuốc để phục vụ tốt nhất việc khám chữa bệnh của người dân.
Kể từ được thử nghiệm mô hình trên, trung bình mỗi ngày khoa Khám bệnh số 2 tiếp nhận 60-80 bệnh nhân, chủ yếu là người cao tuổi và người mắc bệnh lý mạn tính. Khi bệnh nhân gặp trường hợp cấp tính, các nhân viên y tế sẽ xử lý ban đầu, sau đó tùy tình trạng sẽ điều xe cấp cứu đưa bệnh nhân đi bệnh viện.
Về quy mô, khoa Khám bệnh số 2 có tổng cộng 22 nhân sự, trong đó có 8 bác sĩ và 14 điều dưỡng, kỹ thuật viên, hầu hết đều là các nhân viên y tế có trình độ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm.
Khu vực tiếp nhận bệnh nhân cấp cứu của khoa Khám bệnh số 2 (Ảnh: Hoàng Lê).
Cũng theo Giám đốc Bệnh viện Lê Văn Thịnh, sắp tới đây đơn vị sẽ triển khai thêm dịch vụ khám bệnh tại nhà, giúp bà con ở khu vực xa được chăm sóc sức khỏe thuận tiện.
Đồng thời, người dân sống tại khu vực phường Thảo Điền hầu hết là người có điều kiện kinh tế, tại đây cũng có nhiều trường học quốc tế, nên có nhiều nhu cầu tiêm ngừa và thụ hưởng dịch vụ y tế chất lượng. Ngoài ra, khoa Khám bệnh số 2 cũng là nơi tiếp nhận đăng ký tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện.
Có mặt tại buổi lễ, bà Nguyễn Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội TPHCM cho biết, việc khoa Khám bệnh số 2 của Bệnh viện Lê Văn Thịnh đi vào hoạt động sẽ giúp thực hiện tốt hơn việc chăm sóc sức khỏe theo hướng “gần dân”.
Theo đó, người dân mắc bệnh mạn tính, tuổi cao, sức khỏe yếu sẽ có cơ hội tiếp cận y tế chất lượng tốt hơn mà không phải đi lại xa xôi.
Cô Hoàn, 64 tuổi (bệnh nhân phía trước) cho biết đã không còn di chuyển xa để khám chữa bệnh theo bảo hiểm y tế như trước đây (Ảnh: Hoàng Lê).
Bà Hằng chia sẻ, hiện nay có khoảng 150.000 lượt người dân đăng ký khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh. Thống kê cho thấy, trung bình mỗi một quý Bảo hiểm xã hội chi trả 90 tỷ đồng chi phí khám chữa bệnh tại đây.
Sau khi khoa Khám bệnh số 2 của bệnh viện hoạt động, dự kiến chi phí trên sẽ tăng thêm hàng tỷ đồng mỗi tháng.
Về vấn đề thuốc điều trị, bà Hằng cho biết, khoa Khám bệnh số 2 được dùng danh mục thuốc tương đương cơ sở y tế đa khoa hạng 3. Đây là tuyến khám bệnh ban đầu, nên danh mục thuốc nêu trên là phù hợp, cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu của người dân.
Ngoài ra, theo Thông tư 20 của Bộ Y tế liên quan đến danh mục thuốc được thanh toán bảo hiểm y tế, nếu các đơn vị tuyến 3-4 được phê duyệt dịch vụ kỹ thuật như của bệnh viện hạng 1-2 thì vẫn được cấp các thuốc để thực hiện dịch vụ kỹ thuật đó.

Nguồn: dantri.com.vn


Thông Tin Liên Hệ

BỆNH VIỆN LÊ VĂN THỊNH
Địa chỉ: 130 Lê Văn Thịnh, phường Bình Trưng, thành phố Hồ Chí Minh
Điện thoại: 1900633878
Email: bvlvthinh.tpthuduc@tphcm.gov.vn
Thời gian làm việc:
- Trong giờ: 06:00 - 16:30
- Ngoài giờ: 16:30 - 19:00
Cấp cứu: 24/7

Bản Quyền © 2021 Bệnh Viện Lê Văn Thịnh - Thiết Kế và Phát Triển bởi Hân Gia Group